< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 15 tháng 7 đến ngày 21 tháng 7 năm 2017

VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1. Trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” với nước ta, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các thủ đoạn phi quân sự, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... để phá hoại từ bên trong nội bộ, hòng tạo ra lực lượng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước. Trong đó, chúng đặc biệt quan tâm, lợi dụng xã hội dân sự (XHDS). Làm thất bại Chiến lược “Diễn biến hòa bình”: Phòng, chống hoạt động lợi dụng xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước (Báo Quân đội nhân dân 17/7).
Về bản chất, XHDS có nhiều điểm tích cực; đó là hoạt động trong khuôn khổ pháp lý và đạo lý vì mục tiêu khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với xã hội và Nhà nước. Trong đó, mối quan hệ giữa người với người dựa trên sự tự thảo luận và tự đồng thuận với các vấn đề của cuộc sống mà không cần sự can thiệp của Nhà nước. XHDS góp phần giúp Nhà nước giảm bớt gánh nặng chi phí, tinh giản bộ máy, hoạt động hiệu quả và minh bạch; là cầu nối các cá nhân với Nhà nước; cùng với Nhà nước hoạch định và tổ chức phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách và giám sát hoạt động của đội ngũ công chức; góp phần phát huy các nguồn lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Song thực tiễn ở các nước Đông Âu hay biến động chính trị ở Trung Đông, Bắc Phi gần đây đã cho thấy, các thế lực bên ngoài đặc biệt chú trọng thúc đẩy, hình thành các tổ chức XHDS theo tiêu chí phương Tây, từng bước tạo ra tổ chức đối lập, hình thành xã hội đa nguyên, đa đảng; áp đặt các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa theo kiểu của họ, thực hiện “Cách mạng màu”, “Cách mạng đường phố”... Coi đó là phương thức hoạt động chủ yếu nhằm chuyển hóa chế độ xã hội ở các quốc gia này.
Để góp phần đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hội, đoàn thể quần chúng và các NGO ở Việt Nam. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các tổ chức chính trị, xã hội. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gồm cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức quần chúng. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc cần phát huy chức năng phản biện, giám sát, vận động nhân dân cùng tham gia giám sát, phản biện, góp ý kiến trong việc hoạch định cơ chế, chính sách nhằm góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiếp tục phát huy tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Chú trọng xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở; nhất là các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa; chăm lo xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của đất nước và từng địa phương; giải quyết kịp thời bức xúc, khó khăn, nguyện vọng chính đáng của các tổ chức quần chúng và các tầng lớp nhân dân.
Chủ động đổi mới nội dung, hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất XHDS, âm mưu, hoạt động lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch để tác động chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay. XHDS là vấn đề chính trị, xã hội phức tạp, đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu, nhận diện, tuyệt đối tránh khuynh hướng đơn giản hóa nhận thức về XHDS, đồng thời tránh tư tưởng coi XHDS là tiêu cực, đối lập hoàn toàn với Nhà nước. Chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền “vừa hồng, vừa chuyên” có trình độ, năng lực, kiến thức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trên lĩnh vực này. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại, đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế về nhân quyền, làm cho các nước và nhân dân thế giới hiểu rõ thực tế chính sách và thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, góp phần đấu tranh, ngăn chặn các luận điệu vu cáo, xuyên tạc vấn đề này đối với nước ta.
Thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của các tổ chức XHDS để chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động lợi dụng XHDS xâm phạm an ninh chính trị, trật tự xã hội. Kiên quyết xử lý các hội, đoàn thể, các tổ chức NGO hoạt động vi phạm pháp luật, đồng thời tăng cường đối thoại, tiếp xúc, cảm hóa, không để các thế lực lôi kéo nhằm thực hiện ý đồ chống đối từ bên trong... Kịp thời phát hiện kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng các tổ chức, đoàn thể xã hội tuyên truyền, xuyên tạc tình hình trong nước và tập hợp lực lượng gây rối trật tự, xâm phạm an ninh chính trị. Giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện, tố cáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp.
Ðảng, Nhà nước cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động của các tổ chức, đoàn thể, hội, nhóm phù hợp với định hướng phát triển đất nước, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, sao cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

2. Theo Quy hoạch giao thông vận tải (GTVT) Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Hà Nội sẽ cần phải đầu tư xây dựng 10 tuyến đường sắt đô thị (ĐSĐT) với tổng mức đầu tư lên đến hơn 40 tỷ USD. Đường sắt đô thị Hà Nội: Những công trình cần cơ chế đặc thù (Báo Kinh tế và Đô thị 15/7).

Theo Ths Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc Trung tâm Quản lý & Điều hành giao thông đô thị Hà Nội nhận định, ĐSĐT với ưu thế vận tải khối lượng lớn, không chỉ giữ vai trò chủ đạo trong việc định hình mạng lưới giao thông công cộng, mà còn là loại hình vận tải xương sống của cả hệ thống giao thông đô thị nói chung. Nếu nhìn vào hiện trạng giao thông cộng cộng của Thủ đô hiện nay có thể thấy, nhận định đó là hoàn toàn có cơ sở. Giao thông công cộng của Hà Nội cho đến giờ vẫn dựa chủ yếu vào xe buýt thông thường, sức chứa nhỏ, chỉ đáp ứng được từ 8 - 10% nhu cầu đi lại của Nhân dân. Cả TP mới chỉ có một tuyến buýt BRT duy nhất (Kim Mã - Bến xe Yên Nghĩa) được coi là vận tải công cộng khối lượng lớn. Các chuyên gia nhìn nhận, nếu coi hệ thống giao thông công cộng là một bộ khung xương thì ĐSĐT chính là xương sống. Với sức chở lên đến hàng nghìn hành khách mỗi lượt, hàng vạn mỗi ngày; lưu thông trong một không gian biệt lập, hoàn toàn không chịu tác động của ách tắc giao thông, ĐSĐT có lợi thế tuyệt đối trong việc thực hiện vai trò chủ đạo, định hình cả hệ thống giao thông công cộng TP.
Cùng với tốc độ gia tăng dân số, phương tiện cá nhân tại Hà Nội cũng đang tăng chóng mặt, mà đó là hệ lụy tất yếu của việc thiếu đi một mạng lưới giao thông công cộng hiện đại, vượt thoát khỏi sự manh mún, thiếu trước hụt sau. Các chuyên gia trong và ngoài nước đều khẳng định, Hà Nội cần ĐSĐT làm nền tảng để phát triển mạng lưới giao thông công cộng hơn bao giờ hết. Đặc biệt, HĐND TP Hà Nội mới đây đã thông quan Nghị quyết về quản lý phương tiện giao thông nhằm giảm UTGT và ô nhiễm môi trường trên địa bàn Thủ đô. Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết này là hạn chế các phương tiện cá nhân lưu thông; trong nội thành, đến năm 2030 sẽ dừng hoạt động của xe máy. Nghị quyết cũng đặt ra điều kiện, chỉ khi mạng lưới giao thông công cộng đáp ứng được từ 40 - 50% nhu cầu đi lại mới bắt đầu hạn chế xe máy. Như vậy, đến năm 2030, nếu không có ĐSĐT, Hà Nội sẽ không thể đủ điều kiện để hạn chế phương tiện cá nhân. Và Với tốc độ tăng trưởng xe cơ giới khoảng 10% năm hiện nay, thời điểm đó, Thủ đô sẽ thực sự rơi vào thảm họa UTGT và ô nhiễm môi trường.
Theo Quy hoạch GTVT Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Hà Nội sẽ cần phải đầu tư xây dựng 10 tuyến ĐSĐT, với tổng mức đầu tư dự kiến lên đến hơn 40 USD. Đó là khoản đầu tư khổng lồ so với nguồn ngân sách của TP cũng như đối với ngân sách đầu tư công và hạn mức vốn vay ODA của Chính phủ. Mà trong thực tế, chỉ có 2 tuyến ĐSĐT: số 1 Ngọc Hồi - Gia Lâm và số 2A Cát Linh - Hà Đông là do Bộ GTVT đại diện Chính phủ làm chủ đầu tư, xây dựng bằng nguồn vốn ODA; 8 tuyến còn lại sẽ do TP đầu tư thực hiện.
Trong báo cáo mới đây nhất gửi Chính phủ, UBND TP Hà Nội đã đề xuất 2 phương án huy động vốn đầu tư cho ĐSĐT. Phương án 1, đề nghị Chính phủ ưu tiên bố trí nguồn vốn ODA thực hiện các dự án có kế hoạch đầu tư trong giai đoạn 2017 - 2020, giai đoạn 2020 - 2025 và các năm tiếp theo. Phương án 2 là đề nghị Chính phủ bố trí nguồn vốn ODA để thực hiện đầu tư 2 tuyến ĐSĐT: số 2 Trần Hưng Đạo - Thượng Đình và tuyến số 3 Ga Hà Nội - Yên Sở, Hoàng Mai. Trường hợp được Chính phủ bố trí nguồn vốn ODA, Hà Nội cam kết bố trí vốn đối ứng để thực hiện dự án. Các dự án còn lại, Hà Nội kiến nghị được cho phép đầu tư theo hình thức hợp tác công - tư (PPP). Cụ thể, nếu được Chính phủ phê duyệt, Hà Nội sẽ bổ sung vào Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2020 6.000ha đất (tổng giá trị tiền sử dụng đất khoảng 300.000 tỷ đồng) để làm quỹ đất đối ứng cho các nhà đầu tư và đấu giá quyền sử dụng đất tại vốn thực hiện các dự án xây dựng công trình giao thông theo hình thức PPP, trong đó có các dự án ĐSĐT.
Hà Nội cũng mong muốn được sử dụng phần dôi dư khi thống kê, sắp xếp lại quỹ nhà đất chuyên dùng, biệt thự thuộc sở hữu Nhà nước; trụ sở các cơ quan, đơn vị trực thuộc TP để bán đấu giá hoặc cho thuê dài hạn, thu tiền một lần. Đồng thời sử dụng toàn bộ số thu từ cổ phần hóa, thoái vốn DN nhà nước tại TP (tổng 2 nguồn này dự kiến khoảng 37.500 tỷ đồng) nhằm bổ sung kinh phí đầu tư cho ĐSĐT. Ngoài ra Hà Nội còn đề xuất Chính phủ cho sử dụng nguồn thu từ thưởng vượt thu ngân sách theo hình thức ứng tại chỗ (theo Khoản 2, Điều 21 Luật Thủ đô và Nghị định số 123/2004/NĐ - CP của Chính phủ) để tái đầu tư ngay cho hạ tầng, đặc biệt là ĐSĐT.
TS Thạch Minh Quân (Đại học GTVT) cho rằng, những ý tưởng tìm kiếm nguồn tài chính để phát triển ĐSĐT của Hà Nội đã cho thấy một tư duy mạnh mẽ, đầy quyết tâm và mang tính đột phá. “Vận dụng mọi nguồn nội lực sẵn có, kết hợp với các cơ chế, chính sách hấp dẫn nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội hóa sẽ giúp Hà Nội vượt qua rào cản lớn nhất là vấn đề tài chính” - ông Quân nhìn nhận. Nhiều chuyên gia đô thị cũng chia sẻ quan điểm tạo nguồn thu từ bán đấu giá hoặc cho thuê dài hạn nhà đất chuyên dùng, biệt thự thuộc sở hữu Nhà nước; trụ sở các cơ quan, đơn vị trực thuộc TP. Bởi trên thực tế, Hà Nội có đến 970 biệt thự cũ (chưa kể một số mới được đưa ra khỏi danh mục quản lý); cùng hàng loạt trụ sở cơ quan nhà nước hiện không sử dụng hoặc sử dụng không hết công suất, không đúng mục đích. Khoản thu từ việc đấu giá khối bất động sản này dự kiến có thể thu về cho ngân sách TP khoảng 15.000 tỷ đồng.
Phát triển hệ thống ĐSĐT là mong ước chung của tập thể lãnh đạo, Nhân dân Hà Nội từ nhiều năm nay. Đối diện với những khó khăn rất lớn về tài chính, Hà Nội đã chọn, trước hết vượt khó bằng chính nội lực và quyết tâm của mình. Điều cần thiết nhất hiện nay là sự ủng hộ của Chính phủ, cho phép Hà Nội được vận dụng những cơ chế đặc thù nhằm tạo nguồn thu và kêu gọi đầu tư xã hội hóa các dự án ĐSĐT. Theo lãnh đạo UBND TP Hà Nội, hiện đã có 7 nhà đầu tư (5 trong nước, 2 nước ngoài) đăng ký đầu tư các dự án xây dựng ĐSĐT. Điều đó cũng cho thấy TP đang đi đúng hướng để đột phá những khó khăn, tiến gần đến tương lai của ĐSĐT hiện đại và văn minh, hiệu quả.
Để đầu tư cho ĐSĐT, giai đoạn 2017 - 2020 Hà Nội sẽ cần khoảng 7,55 tỷ USD, từ 2021 - 2025 cần khoảng 7,61 tỷ USD, từ 2026 - 2030 cần khoảng 3,566 tỷ USD, từ 2031 cần khoảng 21,327 tỷ USD.
Hà Nội không chỉ cần cơ chế đặc thù về tài chính mà còn cần được tạo hành lang thủ tục hành chính thông thoáng hơn nữa trong đầu tư, xây dựng ĐSĐT. Hiện, khâu thủ tục của mỗi dự án có thể kéo dài đến hàng năm trong khi áp lực giao thông gia tăng từng ngày; cứ tiếp tục như vậy thì Hà Nội vĩnh viễn không thoát khỏi cảnh UTGT.
II. KINH TẾ PHÁT TRIỂN

1. Có nhiều yếu tố hỗ trợ GDP 6 tháng cuối năm, nhưng nếu xét riêng về xuất khẩu thì các mặt hàng như nông sản được kỳ vọng nhiều nhất. GDP 6 tháng cuối năm kỳ vọng vào xuất khẩu nông sản (Báo Doanh nghiệp Việt Nam 18/7).

Theo báo cáo phân tích của Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC), hiện đang có những tín hiệu dần cải thiện nhưng mức tăng trưởng 5,73% của GDP trong 6 tháng đầu năm vẫn được đánh giá là khá thấp.
Nhìn từ khía cạnh tổng cung, căn cứ vào diễn biến tăng trưởng của ba khu vực kinh tế chính thì nếu muốn GDP trong quý III và quý IV có mức tăng trưởng đột biến, hi vọng sẽ được đặt chủ yếu vào khu vực công nghiệp và xây dựng.
Lý do là khu vực này đang có mức tăng trưởng thấp hơn hẳn (chỉ đạt 5,81%) so với cùng kỳ hai năm trước đó (năm 2015 tăng 9%; năm 2016 tăng 7,12%). Yếu tố khiến toàn khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng chậm lại trong 6 tháng đầu năm đến từ ngành khai khoáng với sự sụt giảm của hoạt động khai thác dầu thô.
Theo BVSC, nhận thức được diễn biến biến trên, Chính phủ cũng đã xin phép Quốc hội được tăng sản lượng khai thác dầu thêm khoảng 1 triệu tấn (kế hoạch đầu năm là 12,28 triệu tấn) nhằm hỗ trợ cho tăng trưởng trong ngắn hạn. Theo tính toán của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì khai thác thêm 1 triệu tấn dầu sẽ giúp GDP tăng trưởng thêm gần 0,2%.
Nhìn từ khía cạnh tổng cầu, vẫn có cơ sở để kỳ vọng GDP sẽ được hỗ trợ nhiều hơn bởi tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư tư nhân, chi tiêu Chính phủ và tăng trưởng xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm. Với lạm phát đang có xu hướng giảm (giúp cải thiện sức mua của người dân), tiêu dùng cá nhân có thể sẽ được đẩy mạnh hơn từ nay cho tới cuối năm.
Đối với hoạt động đầu tư tư nhân, chính sách nới lỏng tiền tệ của NHNN đang tạo điều kiện để tín dụng tăng tốc mạnh (tính đến ngày 20/6/2017 đã đạt mức 7,54%) và dự kiến sẽ còn tăng nhanh hơn nữa trong 6 tháng tới. Về đầu tư công, giải ngân vốn đầu tư từ NSNN đang gặp những khó khăn nhất định khi tỷ lệ giải ngân mới đạt 38,7% kế hoạch năm.
Tuy nhiên, Chính phủ gần đây đã liên tục chỉ đạo các bộ ban ngành phải tháo gỡ các nút thắt nhằm đẩy mạnh vốn đầu tư công hơn nữa. Nếu hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản được thông suốt, ngành xây dựng sẽ tăng trưởng tốt, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP.
Thành tố cuối cùng là xuất khẩu nhưng BVSC chỉ kỳ vọng vào xuất khẩu các mặt hàng như nông sản, còn đối với các mặt hàng công nghiệp chế biến chế tạo thì xuất khẩu tăng thường kéo nhập khẩu tăng theo nên mức độ đóng góp vào tăng trưởng GDP cũng sẽ hạn chế hơn.
2. Đúng như dự báo của Nhóm nghiên cứu thuộc Diễn đàn M&A Việt Nam, từ năm 2014 đến nay, thị trường mua bán - sáp nhập (M&A) đã xuất hiện nhiều đợt “sóng” lớn, lớp sau luôn cao hơn lớp trước. Diễn đàn M&A 2017: Tạo bước đột phá (Báo Đầu tư 20/7).
Thực tế, kỷ lục đã được lập và phá vỡ khi qua hai năm liên tiếp (2015 -2016), giá trị M&A đạt mức cao nhất từ trước đến nay với đỉnh mới là 5,82 tỷ USD vào năm ngoái. Nếu giữ được đà tăng trưởng như giai đoạn 2014 - 2016, thị trường M&A hoàn toàn có thể cán đích chu kỳ và thậm chí vượt mức 20 tỷ USD vào cuối năm 2018.
Song từ cuối năm 2016 đến nay, số lượng lẫn giá trị thương vụ M&A có dấu hiệu chậm lại, thương vụ “bom tấn” đã không xuất hiện, thị trường có dấu hiện trầm lắng trở lại. Vấn đề là phải làm gì để thị trường M&A tăng trưởng, vượt kỷ lục 5,82 tỷ USD, cán mốc 20 tỷ USD giai đoạn 2014 - 2018?
Diễn biến trên thị trường M&A những năm gần đây cho thấy, thị trường đang cần cú hích lớn từ động thái chính sách từ Chính phủ và từ chính doanh nghiệp để tận dụng dòng vốn ngoại đang đổ vào thị trường Việt Nam trước lúc dòng vốn này có xu hướng chậm lại, kết thúc giai đoạn tăng trưởng nóng của M&A toàn cầu.
Tìm hiểu, hiện thực hoá các yếu tố để thúc đẩy thị trường, tạo sự đột phá ở chu kỳ cuối của “làn sóng thứ hai” trong 2 năm 2017 - 2018 không chỉ là mục tiêu của riêng Ban Tổ chức Diễn đàn M&A 2017, mà là mối quan tâm của không ít doanh nghiệp đang muốn mở rộng quy mô, vươn tầm khu vực và thế giới.
Yếu tố đầu tiên để thị trường M&A có thể tăng trưởng đột phá là “mở nút thắt” về cơ chế chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho hoạt động M&A. Đó là các cơ chế, chính sách đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh thoái vốn, “nới room” cho nhà đầu tư nước ngoài, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước huy động vốn trên thị trường chứng khoán nước ngoài... Nếu thực hiện rốt ráo, thì đó sẽ là nguồn động lực thúc đẩy thị trường M&A tăng cả về chất và lượng.
Ngoài cơ chế, chính sách, việc quan tâm, tạo thêm nguồn hàng dồi dào về số lượng, phong phú về chất lượng, đủ sức hấp dẫn cũng góp phần thúc đẩy hoạt động M&A. Nguồn hàng này đến từ các doanh nghiệp nhà nước thuộc diện thoái vốn, cổ phần hoá, từ khối doanh nghiệp tư nhân có nhu cầu hợp tác, mở rộng quy mô, mở rộng thị trường nhằm tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nguồn hàng này còn đến từ các start - up mới có tiềm năng, với tinh thần Chính phủ kiến tạo, doanh nghiệp hành động.
Các khâu nhằm tạo sự đột phá này có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Nếu khâu đột phá về chính sách đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm của cơ quan quản lý thì khâu “đột phá nguồn hàng” cần sự sáng tạo, nhanh nhạy của chính doanh nghiệp. Theo đó, mức độ thành công, hiệu quả mang lại, khả năng đột phá thực sự phụ thuộc rất nhiều vào khả năng “hợp đồng tác chiến” của cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Một yếu tố quan trọng tạo sự đột phá cho thị trường M&A chính là dòng vốn nằm trong tay nhà đầu tư nước ngoài. Trong 10 năm qua, khối ngoại luôn là “khách hàng chiến lược” lớn nhất, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động M&A tại Việt Nam. Phần lớn thương vụ tỷ USD được thực hiện với sự góp mặt của các nhà đầu tư quốc tế. Qua các thương vụ M&A chất lượng, khối ngoại không chỉ mang lại nguồn vốn lớn cho thị trường, mà còn mang về cho đối tác nội công nghệ, kiến thức quản lý và thị trường. Đây là “bàn đạp” để doanh nghiệp trong nước bước ra thị trường thế giới. Chắc chắn, dòng vốn nước ngoài sẽ vào Việt Nam nhiều hơn một khi cánh cửa M&A ngày càng rộng mở, khi cơ chế chính sách tiếp tục được khơi thông, khi nguồn hàng ngày càng phong phú.
Thị trường M&A 2017-2018 đang chờ những cú bứt phá, những thương vụ ấn tượng. Nguồn hàng khổng lồ đang đến từ tiến trình thoái vốn, cổ phần hoá các doanh nghiệp quy mô như Habeco, Sabeco, Vinamilk, Petrolimex... hay những cuộc gọi vốn tư nhân tầm quốc tế của Vietjet, FLC, VNG... Đây được xem là những “mỏ vàng”có thể đưa thị trường M&A vào cao trào mới, đạt kỷ lục mới trước khi làn sóng M&A thứ 2 lắng xuống vào năm 2018.

III. VĂN HÓA XÃ HỘI

1. Áp dụng cơ chế giá dịch vụ đăng kiểm theo Luật Giá, khách hàng không gặp khó khăn nhưng các trung tâm đăng kiểm kêu thiệt. Cơ chế giá dịch vụ đăng kiểm: Dân không lợi, đăng kiểm kêu thiệt (Báo Giao thông 19/7).

Hiện có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh việc áp dụng cơ chế giá dịch vụ kiểm định xe cơ giới theo Luật Giá. Đồng thời tranh cãi việc nên áp khung giá hay để tự các đơn vị đăng kiểm quyết định nhằm tạo điều kiện cạnh tranhvà nâng cao chất lượng dịch vụ đăng kiểm.
Theo Thông tư số 238 của Bộ Tài chính, từ 1/1/2017, lĩnh vực kiểm định xe cơ giới đang lưu hành áp dụng cơ chế giá dịch vụ kiểm định theo Luật Giá, thay cho cơ chế phí kiểm định như trước. Tuy vậy, tại các trung tâm đăng kiểm, các mức giá dịch vụ đăng kiểm chưa có bất kỳ sự thay đổi nào mà vẫn giữ nguyên như cũ. Đơn cử, giá đăng kiểm ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi vẫn ở mức 240.000 đồng; xe tải có khối lượng hàng được chở đến 2 tấn là 280.000 đồng; xe tải được chở trên 2 tấn đến 7 tấn là 320.000 đồng. Tương tự, các mức lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng kiểm, tem đăng kiểm cũng giữ nguyên như trước, trong đó 100.000 đồng/lần/xe con và 50.000 đồng/xe tải.
Khoảng 2-3 năm gần đây, xu hướng xã hội hóa đầu tư các trung tâm đăng kiểm và chuyển đổi các đơn vị đăng kiểm từ đơn vị sự nghiệp sang công ty cổ phần diễn ra mạnh mẽ ở nhiều địa phương, điển hình như: Quảng Ninh, Sơn La, Hà Nội... Xu hướng này tạo điều kiện cho chủ phương tiện được lựa chọn đơn vị đăng kiểm, cũng như thúc đẩy các trung tâm đăng kiểm nâng chất lượng, thái độ phục vụ để thu hút khách hàng.
Việc chuyển đổi cơ chế phí sang giá dịch vụ đăng kiểm để tạo thuận lợi hơn cho đơn vị đăng kiểm tăng nguồn thu từ lệ phí. Tuy vậy, có ý kiến cho rằng, với cơ chế một giá như hiện nay chưa phù hợp với xu hướng xã hội hóa đầu tư, khiến có trung tâm có vị trí đắc địa đông khách, còn trung tâm ở nơi không thuận lợi rất ít khách. Điều này cũng dẫn đến hiện tượng cạnh tranh ngầm, không lành mạnh giữa một số đơn vị đăng kiểm.
Liên quan vấn đề nên hay không tạo cơ chế giá linh hoạt trong dịch vụ đăng kiểm, ông Phạm Hồng Thắng, Giám đốc Trung tâm Đăng kiểm 29-01S cho rằng, mức giá mà Bộ Tài chính đưa ra hiện nay là thấp, bởi chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra, nhất là mặt bằng và nhân công rất lớn. Vì vậy, nên quy định mức giá trần để tạo sự linh hoạt cho doanh nghiệp.
2. Vốn, thị trường và nguồn nhân lực, một trong ba yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp. Thế nhưng trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC), thì những yếu tố này lại đang trở thành rào cản khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, bất lợi. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Cần “phá băng” các rào cản (Báo Lao động thủ đô 18/7).
Nông nghiệp được xác định là trụ đỡ của nền kinh tế khi được đầu tư có trọng điểm, vì thế Chính phủ ngày càng quan tâm hơn đến phát triển nông nghiệp (NN), đặc biệt là NNCNC. Trong đó, đáng chú ý nhất là gói tín dụng trị giá 100.000 tỷ cho vay hỗ trợ phát triển NNCNC, NN sạch.
Về vấn đề này, đại diện một số doanh nghiệp chia sẻ, mặc dù tiêu chí tiếp cận nguồn vốn vay từ gói tín dụng 100.000 tỷ đã có. Tuy nhiên, để tiếp cận được với nguồn tín dụng này là cả một vấn đề; đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp.
Một số doanh nghiệp cho hay, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khi các doanh nghiệp vay vốn tín dụng bắt buộc phải thế chấp tài sản là sổ đỏ hoặc sổ hồng. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật cho NNCNC đã phải thế chấp sổ đỏ vay vốn NH từ trước. Thậm chí, có những doanh nghiệp không đủ vốn phải đi thuê lại đất từ người nông dân và chỉ có giấy tờ chứng nhận thuê đất, nên hồ sơ vay vốn phát triển NNCNC không đủ tính pháp lý theo quy định. Còn tài sản trên đất đáng giá hàng tỷ đồng lại chưa được NH công nhận là tài sản thế chấp.
Chuyên gia kinh tế T.S Đặng Đình Tiền – nguyên giảng viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, điều quan trọng để NNCNC phát triển bền vững đó là yếu tố vốn. Tuy nhiên, hiện tại việc tiếp cận nguồn vốn vay từ gói 100.000 tỷ đồng cho NNCNC còn gặp nhiều khó khăn do thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp. Trong khi đó, báo cáo của NHNN tại một cuộc hội thảo về vốn cho NNCNC cho thấy, dư nợ cho vay phát triển NN đến cuối tháng 5/2017 đạt hơn 1.148 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2016, chiếm tỷ trọng khoảng 19% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế. Trong đó tổng dư nợ cho vay NNCNC và NN sạch đạt hơn 32 nghìn tỷ đồng với 4.125 khách hàng còn dư nợ (vay NNCNC là 27.737 tỷ đồng, chiếm gần 86%).
Bên cạnh đó, một trong những lý do khiến doanh nghiệp và NHNN chưa tìm được tiếng nói chung việc đánh giá, xếp loại các dự án NNCNC, NN sạch (khi mới chỉ có tiêu chí đánh giá NNCNC theo định tính, thiếu định lượng cụ thể)…cũng là một trong những tác nhân khiến quá trình đầu tư, phát triển NNCNC gặp khó. Ngoài khó khăn về nguồn vốn, thì chất lượng nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực NNCNC cũng là một trong những vấn đề đáng bàn.
Thống kê cho hay, hiện có đến 97% lao động nông nghiệp là chưa qua đào tạo, điều này ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận với KHCN hiện đại. Hiện lao động chủ yếu được các doanh nghiệp sử dụng đều là những người nông dân, những người được doanh nghiệp thuê lại đất và không có đất canh tác nên phải đi làm thuê và việc áp dụng KHCN với họ là điều rất khó khăn. Ngoài ra, việc đào tạo đội ngũ chuyên gia trong lĩnh vực NN ở nước ta còn nhiều bất cập, chưa bám sát yêu cầu của thực tế cuộc sống, khiến cho nguồn lực NN có tay nghề đang ở tình trạng vừa thiếu, vừa yếu.
Ông Ngô Tiến Dũng, nguyên Phó cục trưởng Cục Bảo vệ Thực Vật (Bộ NN&PTNT) đặt câu hỏi, nếu phát triển NNCNC mà thiếu nguồn lực lao động NN có tay nghề thì lấy nguồn lực ở đâu để vận hành, sản xuất, tiếp thu ứng dụng KHCN vào NN? Vì thế, cần tập trung hơn nữa trong vấn đề đào tạo nguồn lực NN có tay nghề khi chưa quá muộn.
Nếu như nhân lực và vốn là hai rào cản khiến các nhà đầu tư băn khoăn khi quyết định đầu tư vào NNCNC, thì thị trường cũng là một trong những yếu tố có tính quyết định đến sự thành công của NNCNC.
Đề cập về vấn đề này, ông Lê Thành - Viện trưởng Viện kinh tế NN Hữu cơ Việt Nam cho biết, hiện có nhiều người lầm tưởng về NNCNC khi cho rằng đầu tư vào lĩnh vực này sẽ giúp nâng cao sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản trên thị trường. Tuy nhiên, đó là cách hiểu chưa đầy đủ. Bởi theo ông Thành, NNCNC cũng chỉ là một phương thức sản xuất, chứ không phải là một mô hình kinh tế. Vì thế, việc cần thiết phải chủ động tìm đầu ra, chủ động tìm thị trường ổn định cho sản phẩm NNCNC là một trong những vấn đề then chốt. Đối với vấn đề này các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp đang gặp nhiều bất lợi, bởi họ không chỉ gặp khó khăn trong việc vay vốn, chứng minh tài sản thế chấp, mà ngay cả đến nguồn lực lao động NN có tay nghề cũng thiếu, khiến cho việc tìm kiếm, mở rộng thị trường là điều không hề đơn giản.
Đồng tình với quan điểm của ông Thành, ông Ngô Tiến Dũng- nguyên Phó cục trưởng Cục Bảo vệ Thực Vật (Bộ NN&PTNT) cho biết thêm, sản xuất NNCNC hiện nay chủ yếu vẫn dùng để xuất khẩu bởi giá thành cao. Tuy nhiên, thời gian tới khi có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào NNCNC, nguồn cung sẽ lớn hơn, trong khi đó không phải doanh nghiệp nào cũng có được thị trường xuất khẩu ra nước ngoài do các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và hàng rào thuế quan của từng nước. Vì thế, nhà đầu tư cần nghiên cứu kỹ về thị trường trong nước, để có những sản phẩm phù hợp đến tay người tiêu dùng.
Vì thế, để giải quyết những rào cản hiện nay để NNCNC phát triển, điều quan trọng NHNN, các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp cần ngồi lại với nhau để tháo gỡ về cơ chế tiếp cận nguồn vốn. Một khi nguồn vốn được khơi thông, thì việc tiến hành đầu tư mới được thông suốt. Cạnh đó, để NNCNC phát huy hiệu quả, bản thân mỗi doanh nghiệp cũng cần phải xác định rõ thị trường. Nguồn vốn hỗ trợ từ Nhà nước không cho phép chúng ta sử dụng theo phong trào.
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH