< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 20 tháng 5 đến ngày 26 tháng 5 năm 2017

VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1.  Nếu Luật Quản lý, sử dụng tài sản công được thông qua, Bộ Tài chính kỳ vọng sẽ bịt được nhiều lỗ hổng trong mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công hiện nay. Việc bảo tàng bán bia, bệnh viện công dồn bệnh nhân dẫn tới quá tải để lấy chỗ kinh doanh… sẽ không nhức nhối như hiện nay. Siết quản lý tài sản công, hết thời bảo tàng bán bia (Báo Tiền phong 26/5).
Chiều 25/5, Bộ Tài chính đã họp báo về Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Ông Nguyễn Tân Thịnh, Phó cục trưởng Cục Quản lý Công sản (Bộ Tài chính) cho biết, do lịch sử để lại, tài sản công được chia ra quy định tại nhiều luật chuyên ngành khác nhau. Vì vậy, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công sẽ có quy định khung để bao quát quản lý toàn bộ tài sản công. Qua đó ngăn chặn thất thoát, lãng phí, tham nhũng và khai thác được hết nguồn lực tài sản công cho phát triển đất nước.
Về số tiền thu được từ hoạt động kinh doanh, liên doanh, liên kết, theo ông Thịnh, hiện số lượng đơn vị nhà nước, sự nghiệp công lập sử dụng tài sản kinh doanh, liên kết chưa nhiều. Nguồn thu từ hoạt động liên doanh, liên kết được hòa chung vào nguồn thu của đơn vị, quyết toán kinh phí cũng tính chung, nên chưa tách được.
Vì vậy, theo lãnh đạo Cục Quản lý Công sản, luật mới sẽ quy định bắt buộc kê khai tài sản công qua cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công. Trong kê khai, cũng quy định các đơn vị phải kê khai rõ phần tài sản nào dư thừa đem kinh doanh, liên doanh, liên kết; cho ai thuê, liên kết với ai, giá cả bao nhiêu; nguồn thu từ từng hoạt động này được bao nhiêu, chi thế nào…
Với các đơn vị nhà nước khác, Luật Quản lý sử dụng tài sản công cũng quy định, không được dùng ngân sách đầu tư, mua sắm vượt nhu cầu, định mức để dôi dư đem kinh doanh. Việc đầu tư mới phải được cơ quan tài chính cùng cấp phê duyệt định mức mới được đầu tư, mua sắm.
Theo Bộ Tài chính, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công sửa đổi lần này tiếp thu ý kiến các đại biểu Quốc hội nên bổ sung thêm 2 hành vi nghiêm cấm mới. Theo đó, nghiêm cấm các đơn vị nhà nước sử dụng ô tô và tài sản khác do tổ chức, cá nhân biếu, tặng không đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ. Theo đại diện Bộ Tài chính, quy định này nhằm ngăn chặn việc các địa phương, đơn vị nhận và sử dụng ô tô đắt tiền (xe sang) của doanh nghiệp biếu tặng như thời gian qua.
Đồng thời, nghiêm cấm cơ quan quản lý cấp trên giao tài sản cho cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới không phù hợp với nhu cầu, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công. Điều này nhằm ngăn chặn việc trang bị ô tô, tài sản công cho các đơn vị cấp dưới vượt định mức, hoặc không có tiêu chuẩn vẫn được trang bị sử dụng.
Dự luật cũng quy định rõ về hình thức khoán định mức sử dụng tài sản công, để mở đường cho việc áp dụng rộng rãi hình thức khoán kinh phí sử dụng xe công và các tài sản, dịch vụ công khác. Nâng cấp chức năng ban hành tiêu chuẩn, định mức một số loại tài sản lên Chính phủ thay cho quyết định của Thủ tướng. Quy định này hướng tới việc ban hành tiêu chuẩn, định mức phải được lấy ý kiến các đơn vị liên quan, có đánh giá tác động.
Làm như vậy sẽ khắc phục việc các cơ quan, đơn vị mua sắm, sử dụng tài sản công vượt định mức. Bên cạnh đó, dự luật cũng bổ sung 2 hình thức giám sát, là giám sát cộng đồng thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; giám sát của cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị với việc quản lý, sử dụng tài sản công tại nơi mình công tác.
Ngoài ra, dự luật cũng bổ sung các quy định về quản lý, sử dụng các tài sản công khác, như tài sản hạ tầng, vùng trời, vùng nước, tần số điện, khoáng sản, đất đai… Dự kiến Dự luật sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến vào ngày 29/5 tới.
2. Sáng 22/5, Kỳ họp thứ 3, QH Khóa XIV khai mạc tại Nhà QH. Theo thông lệ, tại kỳ họp đầu năm, QH dành trọng tâm cho công tác xây dựng pháp luật. Với khối lượng 13 dự án luật và 5 dự thảo nghị quyết trình xem xét, thông qua và 5 dự án luật trình cho ý kiến lần đầu, trong đó có những dự luật lớn, khó, tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội đất nước, đòi hỏi ở QH, các ĐBQH tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học, kỹ lưỡng và chất lượng. Chất lượng luật là trên hết (báo điện tử Đại biểu nhân dân 22/5).
Ngay sau khi bế mạc Kỳ họp thứ 2, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của QH đã bắt tay ngay vào công tác tiếp thu, chỉnh lý các dự án luật vừa được QH cho ý kiến lần đầu. Hàng loạt hội thảo, hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào các dự án luật được các cơ quan của QH chủ động tiến hành. Riêng 5 dự án luật mà quan điểm của cơ quan trình và cơ quan thẩm tra cũng như các ĐBQH còn khác nhau, đã được đưa ra thảo luận tại Hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách (diễn ra đầu tháng 4.2017). Đó là dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13; dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (sửa đổi); dự án Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi); dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và dự án Luật Quy hoạch.
Góp phần vào việc hoàn thiện các dự án luật quan trọng này không thể không kể đến vai trò, trách nhiệm của UBTVQH. Với tinh thần làm việc thận trọng, khách quan, tiếp thu tối đa, tỏ rõ chính kiến, UBTVQH không kết luận theo kiểu “chốt cứng” mà yêu cầu các cơ quan liên quan tiếp tục nghiên cứu, giải trình thấu đáo, cân nhắc kỹ tác động của các phương án đưa ra, với mong muốn, từng điều luật trình QH phải bảo đảm tính khả thi, cụ thể, chặt chẽ. Qua đó, từng nút thắt, điểm vướng, có lúc tưởng chừng không thể tìm được tiếng nói chung (ngay chính từ khâu soạn thảo giữa các bộ, ngành có liên quan) đã dần được tháo gỡ.
Dưới sức nóng lập pháp, một nguyên tắc đã, đang và sẽ luôn được QH duy trì, đó là số lượng phải đi kèm với chất lượng. Luật do QH ban hành phải bảo đảm tính khả thi. Bằng chứng là một số dự án luật, khi xét thấy chưa bảo đảm yêu cầu về chất lượng, UBTVQH đã kiên quyết đưa ra khỏi dự kiến chương trình Kỳ họp thứ 3, dẫu rằng, đây đều là những dự luật đã được “đánh trống ghi tên” trong nghị quyết của QH.
3. Theo TS Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, tình hình nợ xấu và hoạt động của một số TCTD vẫn tiếp tục xấu đi. Không kéo dài vô thời hạn việc xử lý nợ xấu theo quy định đặc thù (báo Sài gòn giải phóng 25/5).
Tại phiên thảo luận tổ ngày 23-5, một số ĐBQH tỏ ra băn khoăn về việc bổ sung gấp gáp dự thảo nghị quyết về xử lý nợ xấu vào chương trình nghị sự Kỳ họp thứ 3 của Quốc hội. TS Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, đã có cuộc trao đổi về vấn đề này.
Theo TS Nguyễn Đức Kiên, trong 2 năm đầu tiên thực hiện tái cơ cấu theo các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, tuy đạt được kết quả bước đầu là ổn định hệ thống, nhưng tình hình nợ xấu và hoạt động của một số TCTD vẫn tiếp tục xấu đi. Số lượng nợ xấu lớn đe dọa nghiêm trọng không chỉ hệ thống tài chính mà toàn bộ hệ thống an ninh tiền tệ quốc gia. Cho nên, trong tình huống này, chúng ta buộc phải có những quyết định rất đặc thù. Các cơ quan liên quan đều thống nhất như vậy, nhưng hình thức văn bản pháp quy quy định vấn đề này như thế nào là việc được tranh luận. Sau khi cân nhắc kỹ, toàn diện thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định phương thức triển khai xử lý vấn đề trên gồm 2 phần: một là Quốc hội có nghị quyết để xử lý các vấn đề cấp bách, đảm bảo an ninh cho hệ thống tiền tệ và hệ thống các TCTD Việt Nam; hai là sửa Luật Các TCTD để đảm bảo tính ổn định lâu dài cho toàn bộ hệ thống.
Điểm mới đầu tiên trong nghị quyết này là có thời điểm bắt đầu cũng như thời điểm kết thúc. Nghị quyết dự kiến có hiệu lực từ ngày 1-7-2017 và có thể kết thúc vào ngày 1-7-2020, hoặc ngày 1-7-2022, tùy Quốc hội quyết định. Điểm mới thứ hai là, nghị quyết không phân biệt nợ xấu của các TCTD theo sở hữu, tức là không phân biệt nợ xấu của NHTM Nhà nước, hay của NHTM cổ phần, mà gọi chung là nợ xấu của các TCTD đang hoạt động trên đất nước Việt Nam. Điểm mới thứ ba là giới hạn thời gian nợ xấu. Nghị quyết này chỉ xử lý nợ xấu kết toán đến ngày 31-12-2016. Với các khoản nợ xấu hình thành từ ngày 1-1-2017 trở đi, các TCTD phải thực hiện theo Luật Các TCTD hiện hành và sau khi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD (Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD không có quy định về xử lý nợ xấu - PV) mà Quốc hội sẽ xem xét bỏ phiếu thông qua vào kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV có hiệu lực thì thực hiện theo luật này. Điểm mới thứ tư trong nghị quyết này là hệ thống hóa lại quy trình xử lý tài sản bảo đảm của nợ xấu và quy định giải quyết tranh chấp qua tòa án theo quy trình rút gọn.
Đối với vấn đề thu giữ tài sản bảo đảm, nghị quyết đã tuân thủ tinh thần của Hiến pháp là đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và quyền có chỗ ở của công dân. Cụ thể hơn, khi người đi vay có tài sản là nhà ở đưa vào giao dịch đảm bảo để trở thành hàng hóa tham gia giao dịch bình đẳng trong nền kinh tế thị trường thì hàng hóa đó có thể là ngôi nhà hay dạng tài sản khác đều phải thực hiện theo pháp luật, tôn trọng các cam kết, quy định trong Bộ luật Dân sự để đảm bảo một xã hội hoạt động theo mô hình Nhà nước pháp quyền được vận hành theo luật, chứ không phải là ủng hộ những người cố tình chây ỳ.
II. KINH TẾ PHÁT TRIỂN
1. Nỗ lực giải quyết nợ xấu trong điều kiện các thủ tục giải quyết bị kéo dài, quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng còn gặp nhiều khó khăn, trong khi đó do vẫn gánh vác trách nhiệm đối với các chương trình tín dụng chính sách khiến Agribank khó lòng vượt qua áp lực nợ xấu trong một thời gian ngắn nếu không có một cơ chế, chính sách đột phá. Gian nan xử lý nợ xấu, áp lực trong vai trò “bà đỡ” (báo Dân trí 26/5).
Sau hơn 3 năm tái cơ cấu với trọng tâm giải quyết nợ xấu, Agribank đã tích cực, chủ động áp dụng nhiều giải pháp kể cả đề nghị cơ quan pháp luật hỗ trợ trong công tác xử lý nợ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan khiến thời gian xử lý phải kéo dài.
Cũng trong thời gian qua, việc xử lý nợ xấu gặp phải nhiều khó khăn trong xử lý các vụ việc có yếu tố hình sự. Khi chuyển điều tra hình sự, khách hàng ngừng trả nợ, tài sản bảo đảm xuống cấp và suy giảm giá trị. Tuy nhiên, các tài sản liên quan vụ án Agribank không được chủ động xử lý, dẫn đến tỷ lệ thu hồi tài sản thấp, có khoản vay hầu như không thu được nợ. Ông Trịnh Ngọc Khánh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank chia sẻ: công cuộc xử lý nợ xấu gặp nhiều vướng mắc như: nhiều tài sản thế chấp cần phải bổ sung và hoàn thiện các hồ sơ, nhiều con nợ chây ì, thiếu hợp tác, tìm cách tẩu tán tài sản, các tòa dân sự quá tải, thủ tục phức tạp, kéo dài.
Số lượng các vụ việc do Agribank chủ động khởi kiện ra Tòa án dân sự các cấp lên đến mức hơn 6.800 vụ là một con số quá tải ngay với cả cơ quan tòa án. Điều này dẫn đến tình trạng việc thụ lý, giải quyết nhiều vụ án kéo dài, khó khăn trong việc thu hồi nợ. Tổng giá trị tranh chấp là 41.763 tỷ đồng, đến nay mới giải quyết được hơn 5.270 tỷ đồng, còn phải giải quyết là 36.489 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, công tác thi hành án nhiều phức tạp, có vụ tới 4 - 5 năm vẫn chưa thi hành xong, nhiều trường hợp tài sản bán đấu giá trên 10 lần vẫn chưa thành mặc dù Agribank cho biết đã thường xuyên làm việc với cơ quan thi hành án.
Mặt khác, không thể phủ nhận là hệ thống cơ chế pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, xử lý tài sản thế chấp, nợ xấu chưa cụ thể rõ ràng, thiếu đồng bộ. Điều này gây khó khăn ngay cả với việc tiếp tục cho vay đối với khách hàng có nợ đã xử lý rủi ro, nợ đã bán cho VAMC để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ khách hàng sau khi bán nợ.
Không chỉ khó khăn trong thủ tục xử lý, nguồn lực tài chính để tự xử lý nợ xấu cũng là một thách thức vô cùng lớn đối với Agribank, bởi vì, ngân hàng này hiện đang đảm trách đến 8 chương trình tín dụng chính sách theo chỉ đạo của Chính phủ bằng nguồn vốn tự cân đối nhưng trần lãi suất cho vay (tính cả phần cấp bù lãi suất) phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ.
Tính đến 30/4/2017, tổng dư nợ của Agribank đối với các chương trình tín dụng chính sách theo các Quyết định 63, 65, 68 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp; Nghị quyết 30a của Chính phủ về cho vay ưu đãi đối với các huyện nghèo; Nghị đinh 55 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 67, 89 về chính sách phát triển thủy sản; cho vay gia súc, gia cầm; cho vay xây dựng nông thôn mới… đã lên đến hơn 557.000 tỷ đồng. Ngoài ra, hiện Agribank vẫn còn 1.059 tỷ đồng chưa được cấp bù lãi suất.
Việc giải quyết các khó khăn của Agribank là rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay để ngân hàng có thể duy trì được cả hai vai, đặc biệt là gánh nặng tín dụng chính sách cho nền kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Thực tế, khu vực nông nghiệp, nông thôn cũng đang rất cần các chính sách, các khâu đột phá, bao gồm cả chính sách tín dụng để ngành nông nghiệp tái cơ cấu thành công. Agribank cần cơ chế, cần sự chia sẻ của các ngành, các cấp trong vấn đề xử lý nợ xấu để sớm xử lý dứt điểm tồn tại, vững tin một chặng đường mới.
2. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP đề ra cho năm nay là 6,7%, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội lưu ý Chính phủ cần cân nhắc kỹ lưỡng khi triển khai các giải pháp “nóng” như tăng thêm sản lượng khai thác dầu thô và hoạt động khai khoáng, nhằm tránh “tác dụng phụ”. Thúc tăng trưởng GDP, cẩn trọng với giải pháp 'nóng' (báo Đầu tư chứng khoán 24/5).
Tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV vừa diễn ra, Phó thủ tướng Trương Hòa Bình thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2016; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2017.
Đánh giá của Chính phủ cho thấy, tình hình kinh tế 4 tháng đầu năm nay diễn biến theo chiều hướng tích cực, khi kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn về tài chính, tiền tệ, tín dụng cơ bản được bảo đảm; tín dụng tăng cao, lãi suất ngân hàng được giữ ổn định…
Mặc dù vậy, nền kinh tế cũng đối mặt với không ít khó khăn như: sản xuất nông nghiệp vừa phục hồi, nhưng tình hình sâu bệnh bắt đầu có diễn biến phức tạp trên diện rộng, ngành chăn nuôi lợn rơi vào “khủng hoảng thừa” do mất cân đối nghiêm trọng giữa nguồn cung và thị trường, giá bán giảm mạnh; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng chậm trong bối cảnh chỉ số tồn kho toàn ngành vẫn ở mức cao; xuất khẩu tăng mạnh, nhưng nhập siêu có xu hướng gia tăng; tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư phát triển, nhất là nguồn vốn tư nhân và FDI chậm…
Chính phủ cần tiếp tục triển khai quyết liệt cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, bảo đảm sự phối hợp, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp, ngành và chính quyền địa phương
Trình bày trước Quốc hội Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đối với báo cáo trên của Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cơ bản tán thành với kết quả đạt được trong 4 tháng đầu năm 2017 trên các lĩnh vực như Báo cáo của Chính phủ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế-xã hội vẫn bộc lộ một số khó khăn, thách thức, đó là: tăng trưởng chưa thực sự bền vững, GDP quý I/2017 ước tính tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng trưởng thấp nhất so với nhiều năm gần đây chủ yếu là do tổng cầu gặp khó khăn, khu vực công nghiệp, xây dựng giảm so với cùng kỳ. Trong đó, các nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, khai khoáng, điện tử, máy tính, xây dựng đều sụt giảm, thậm chí giảm sâu so với cùng kỳ...
Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,7% như kế hoạch đề ra, các quý còn lại phải tăng trung bình trên 7%. Tuy nhiên, với điều kiện và tình hình thực tế năm nay, mục tiêu này là khó hiện thực, khả năng chỉ đạt khoảng 6,3-6,5%.
Kết thúc phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4/2017, đã có những ý kiến cho rằng, cần xem xét tăng sản lượng khai thác dầu thô nói riêng, ngành khai khoáng nói chung, để góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP đạt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội lưu ý Chính phủ cần cân nhắc kỹ lưỡng khi sử dụng các giải pháp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế như tăng thêm sản lượng khai thác dầu thô và hoạt động khai khoáng...
Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Chính phủ cần tập trung điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, định hướng chính sách tín dụng tập trung cho lĩnh vực sản xuất, hạn chế tín dụng không bền vững, tín dụng cho vay đầu tư bất động sản, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng với lãi suất phù hợp để phát triển doanh nghiệp; thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, kiểm soát và tăng cường kỷ luật ngân sách, giảm bội chi ngân sách...
Liên quan đến các giải pháp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn, ông Thanh cho hay, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thống nhất đề nghị Chính phủ cần đổi mới tư duy, cải cách thể chế, thay đổi chính sách mang tính căn cơ, dài hạn như chính sách thu hút vốn FDI có chọn lọc, thay vì tận dụng chính sách năng lượng giá rẻ; nghiên cứu sớm việc tạo thể chế hình thành các khu hành chính-kinh tế đặc biệt, xây dựng các chính sách mang tính đột phá cho các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, TP.HCM...
“Chính phủ cần tiếp tục triển khai quyết liệt cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, bảo đảm sự phối hợp, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp, ngành và chính quyền địa phương. Triển khai quyết liệt cơ cấu lại các ngành kinh tế, trước mắt cần tập trung cơ cấu lại ngành công nghiệp để góp phần khai thác các nguồn lực thay thế do sự giảm sút của công nghiệp khai khoáng thời gian qua. Thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng, quản lý chặt chẽ sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế…”, ông Thanh nói.
III. VĂN HÓA XÃ HỘI
1. Mô hình hoạt động cũng như một loạt ưu đãi lớn dành cho 3 đặc khu kinh tế là Vân Đồn (thuộc tỉnh Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang) đã được các cơ quan liên quan đề xuất. Ưu đãi gì cho các đặc khu kinh tế? (báo Hải quan 26/5).
Nhiều ý kiến cho rằng, bên cạnh các ưu đãi, cần phải tạo ra thể chế vượt trội để các đặc khu kinh tế này có điều kiện thực sự hoạt động hiệu quả, năng động, trở thành mũi nhọn trong phát triển kinh tế.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), việc xây dựng mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở nước ta với các cơ chế, chính sách về hành chính và kinh tế đột phá, cạnh tranh quốc tế, tạo mô hình động lực phát triển mới, có tác động lan tỏa tích cực ra các vùng và cả nước là hết sức cần thiết và cấp bách. Cuối năm 2016, Chính phủ đã thống nhất nguyên tắc xây dựng mô hình 3 đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc theo định hướng mỗi đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt lựa chọn phát triển thế mạnh riêng có, nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh của mỗi đơn vị, tạo động lực phát triển mới, bảo đảm phân bổ nguồn lực theo vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa trên phạm vi cả nước.
Về hiệu quả kinh tế của các đặc khu kinh tế, Bộ KH&ĐT cũng đã cho biết một số chỉ tiêu định lượng khi triển khai mô hình đặc khu. Theo kết quả đánh giá, sau giai đoạn 2020, các đặc khu có đóng góp về thu ngân sách, tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người. Đơn cử, tại đặc khu kinh tế Vân Đồn ước tính Nhà nước thu được khoảng 1,9 tỷ USD từ thuế và phí, 2,1 tỷ USD từ các nguồn thu từ đất, các DN tạo giá trị gia tăng khoảng 9,7 tỷ USD trong giai đoạn 2021-2030, nâng mức thu nhập bình quân đầu người lên 5.000 USD vào năm 2020 và 12.500 USD vào năm 2030. Với Phú Quốc, theo tính toán, Nhà nước sẽ thu được khoảng 3,3 tỷ USD từ thuế và phí và các nguồn thu từ đất, các DN tạo giá trị gia tăng khoảng 19 tỷ USD trong giai đoạn 2017 -2030. Thu nhập bình quân đầu người cũng được nâng lên khoảng 5.300 USD vào năm 2020 và 13.000 USD vào năm 2030. Đặc khu Vân Phong cũng dự kiến sẽ đem lại khoảng 1,2 tỷ USD từ thuế và phí, 1 tỷ USD từ các nguồn thu từ đất, các DN tạo giá trị gia tăng khoảng 10 tỷ USD trong giai đoạn 2017 -2030,
Về mô hình tổ chức và quản lý, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh. Tổ chức chính quyền tại đây sẽ gồm có HĐND và UBND, trong đó, HĐND được tổ chức 2 cấp gồm HĐND đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và HĐND các phường. UBND cũng được tổ chức thành  2 cấp tương tự, trong đó nhất thể hóa chức danh Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND. Đáng lưu ý, sẽ có những quyền, thẩm quyền hiện thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ ngành, HĐND, UBND và các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh được giao cho chính quyền đặc khu. Mục tiêu là sẽ xây dựng chính quyền của đặc khu với bộ máy quản lý hành chính tinh gọn; có thẩm quyền phù hợp, hiệu lực, hiệu quả; được áp dụng thủ tục hành chính thuận lợi, đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân theo chuẩn mực quốc tế.
Đánh giá về mô hình hành chính của các đặc khu được đề xuất, chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ cho biết, đây là một thử nghiệm để thực hiện những cải cách trong cả nước mà ta đang theo đuổi, ở mức cao hơn bình thường nhằm tạo thuận lợi nhiều nhất cho các chủ thể kinh tế, nhất là nhà đầu tư nước ngoài và người dân tham gia các hoạt động kinh tế và phát triển xã hội. Tuy nhiên, chuyên gia Lưu Bích Hồ cũng cho rằng, vì trong khuôn khổ Hiến pháp nước ta cho phép, nên nếu so với mô hình các đặc khu kinh tế của các nước, mức độ tự chủ, tự quản của mô hình ở ta còn thấp hơn.
Để thu hút các nhà đầu tư, Bộ KH&ĐT cũng xác định xây dựng các chính sách về kinh tế - xã hội ưu đãi cao hơn và thuận lợi hơn các luật hiện hành và các dự kiến cam kết quốc tế sắp tới của Việt Nam, đảm bảo vượt trội và cạnh tranh quốc tế.
Với nhóm chính sách về tài chính, ngân sách, Bộ KH&ĐT đề xuất cho phép để lại toàn bộ số thu của các đặc khu trong một thời gian cần thiết, ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho các đặc khu, điều chỉnh tỷ lệ điều tiết ngân sách địa phương về Trung ương để tạo nguồn vốn đầu tư và hỗ trợ đầu tư xây dựng một số hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu của các đặc khu này và đào tạo nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, Bộ KH&ĐT cũng mạnh dạn đề nghị cho phép áp dụng chính sách thiết lập thể chế tiền tệ, ngân hàng riêng, đa dạng hóa các loại hình giao dịch phù hợp với thông lệ quốc tế; tự do hóa luồng vốn; bên cạnh tiền đồng Việt Nam là đồng tiền lưu hành chủ yếu, được phép sử dụng một số đồng tiền tự do chuyển đổi; thành lập trung tâm tài chính riêng dưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Bên cạnh đó, Bộ này cũng đề xuất cho phép các đặc khu được thực hiện chính sách tiền lương linh hoạt và tự chủ, ký hợp đồng làm việc với công chức, thuê chuyên gia nước ngoài.
Mới đây, Bộ Tài chính cũng đã đề xuất cơ chế, chính sách tài chính, ngân sách đặc thù đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Về thuế TNDN cho các dự án đầu tư, Bộ Tài chính đề nghị áp dụng thuế suất 10% trong thời gian 30 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với các dự án đầu tư không thuộc ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư. Riêng đối với dự án đầu tư thuộc ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư (không bao gồm dự án đầu tư khai thác khoáng sản, sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế Tiêu thụ đặc biệt, trừ ô tô) sẽ được hưởng thuế suất 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế. Thu nhập từ dự án đầu tư - kinh doanh BĐS được áp dụng thuế suất ưu đãi 17% (không áp dụng thời gian miễn, giảm thuế). Về phí và lệ phí, trong hai phương án của Bộ Tài chính có phương án đề nghị phân cấp cho đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có thẩm quyền quyết định về phí, lệ phí như HĐND cấp tỉnh.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính không đồng thuận với đề nghị cho phép áp dụng chính sách thiết lập thể chế tiền tệ, ngân hàng riêng… do lo ngại chính sách này mâu thuẫn với quy định tại Pháp lệnh quản lý ngoại hối, ảnh hưởng đến việc điều hành và thực thi chính sách tiền tệ, tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.
Bình luận về sự hấp dẫn, hiệu quả của các đặc khu kinh tế, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, nếu được thành lập cách đây 50 năm thì các đặc khu sẽ rất hấp dẫn, vì việc giảm thuế thời gian đó là chưa có. Hiện nay Việt Nam đã ký kết hàng loạt FTA thì các ưu đãi về thuế đã trở nên rất phổ biến, do đó sức hấp dẫn phải đến từ các cơ chế khác nữa. Ông cũng cho rằng, nếu như không có bộ máy làm việc chuyên nghiệp, nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư mà vẫn phải theo cơ chế xin cho, thủ tục phiền hà thì sẽ không thể hấp dẫn nhà đầu tư. Chuyên gia này cũng nhấn mạnh, các đặc khu kinh tế này có thể hấp dẫn một số nhà đầu tư nào đó, ví dụ, có thể một số nhà đầu tư Trung Quốc sẽ “đổ” tiền vào khu Vân Đồn vì gần Trung Quốc hoặc vì họ có một số tính toán về mặt chiến lược, điều này cần xem xét. 
Theo chuyên gia Lưu Bích Hồ, ưu đãi về thuế, phí ở mức cao hơn là rất quan trọng và là điều kiện chủ yếu để tạo môi trường khuyến khích đầu tư kinh doanh. Nhưng đồng thời môi trường này còn đòi hỏi có điều kiện thuận lợi tối đa về quản lý hành chính và chính đó là đặc điểm  nổi bật, nổi trội của loại mô hình đặc khu này khác với các khu kinh tế và khu công nghiệp hiện có. Ngoài ra những điều kiện về kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ và nguồn nhân lực chất lượng cao, điều kiện về an sinh và bảo đảm xã hội, môi trường ở các đặc khu cũng cần phải tốt hơn nhiều so với khu kinh tế và khu công nghiệp.
2. Liên tục trong thời gian gần đây, khi nghi ngờ một số lô hàng quá cảnh qua cảng Cái Mép và cảng Cát Lái TP. Hồ Chí Minh, các đơn vị hải quan gồm: Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Nam (Cục Điều tra chống buôn lậu-Tổng cục Hải quan), Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, Cục Hải quan Bà Rịa- Vũng Tàu đã thực hiện kiểm tra, bắt giữ  ngay tại cửa khẩu, với số lượng lên đến hàng chục container. Biến tướng buôn lậu qua loại hình hàng quá cảnh: Chặn bắt ngay tại cửa khẩu (báo Hải quan 26/5).
Các lô hàng bị phát hiện, bắt giữ  ngay tại cửa khẩu hầu hết là do cơ quan Hải quan thực hiện khám xét vì các DN vận chuyển đều chối bỏ hàng, hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh. Hàng hóa vi phạm chủ yếu là điện tử, điện lạnh cấm nhập khẩu, hàng vận chuyển quá cảnh có điều kiện.
Ngày 5/5, tại cảng Cát Lái- TP. Hồ Chí Minh, Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Nam (Đội 3) thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu đã phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 và các cơ quan chức năng thực hiện khám xét 2 container hàng trung chuyển, phát hiện chứa rất nhiều hàng lậu, hàng cấm. Theo lãnh đạo Đội 3,  2 container hàng nêu trên là hàng trung chuyển từ Nhật Bản về Việt Nam để qua Campuchia. Khi lô hàng cập cảng Cát Lái, Đội 3-Cục Điều tra chống buôn lậu phát hiện có dấu hiệu nghi vấn nên đã theo dõi, giám sát và thực hiện quyết định khám xét. Kết quả phát hiện trong 2 container chứa gần 100 xe gắn máy; nhiều thiết bị văn phòng, âm ly… đã qua sử dụng, thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu.
Trước đó, tại cảng Cái Mép (Bà Rịa- Vũng Tàu), Đội 3 - Cục Điều tra chống buôn lậu và Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép cũng đã nghi vấn nhiều lô hàng quá cảnh, nên thực hiện khám xét, phát hiện hàng chục container hàng quá cảnh chứa hàng lậu là hàng điện tử, điện lạnh, xe máy… tất cả đều đã qua sử dụng, thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu. Có những trường hợp, các đối tượng còn cất giấu cả xe ô tô trong lô hàng quá cảnh. Điển hình, tháng 6/2016, khám xét lô hàng vận chuyển quá cảnh từ Hàn Quốc về Việt Nam để xuất khẩu sang Campuchia, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 phối hợp Đội 3 – Cục Điều tra chống buôn lậu phát hiện bên trong chứa 2 chiếc ô tô đã qua sử dụng và hàng chục động cơ ô tô đã qua sử dụng. Lô hàng này do Công ty TNHH Sản xuất Dịch vụ Thương mại XNK Ngân hàng thực phẩm (140/12 Lê Đức Thọ, phường 6, quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh) là người vận chuyển, hàng hóa thể hiện là container vải vụn, mới 100%.  Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, đối với số hàng sai khai báo này theo quy định nếu quá cảnh phải có giấy phép của Bộ Công Thương, DN không có giấy phép này nên mới ngụy trang là vải vụn!
Không chỉ hàng lậu, hàng cấm ẩn danh hàng quá cảnh vận chuyển qua đường biển, các đối tượng còn lợi dụng đường hàng không quá cảnh những lô hàng có trị giá cao. Mới đây, vào cuối tháng 4/2017, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã phát hiện lô hàng thiết bị y tế là máy chụp CT cắt lớp đã qua sử dụng, nhưng khi làm thủ tục nhập khẩu, Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Con Ong (địa chỉ: 39B Trường Sơn, phường 4, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh)- doanh nghiệp đứng tên mở tờ khai hải quan, đã khai báo lô hàng nhập khẩu mới 100% nhằm trốn tránh việc xin giấy phép của Bộ Công Thương. Lô hàng này gồm 10 kiện, trọng lượng 5,7 tấn, trị giá khoảng trên 3,2 tỷ đồng cũng với phương thức lợi dụng quá cảnh đi Campuchia để nhập hàng cấm.
Ngoài những thủ đoạn trên, một số đối tượng còn lợi dụng loại hình hàng quá cảnh được miễn kiểm tra thực tế để chuyển loại hình, thẩm lậu trở lại thị trường Việt Nam tiêu thụ… Trên thực tế, cơ quan Hải quan đã phát hiện một số trường hợp thể hiện người nhận hàng ban đầu theo khai báo trên manifest là DN tại Việt Nam, khi cơ quan Hải quan hoặc các lực lượng chức năng khác phát hiện lô hàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan, tiến hành kiểm tra hàng hóa thì DN không đến làm thủ tục, sau đó “xuất chiêu” điều chỉnh người nhận hàng tại Campuchia và các nước khác và làm thủ tục quá cảnh lô hàng.
Một thủ đoạn gian lận nữa đối với hàng quá cảnh đó là đối với những lô hàng gồm mặt hàng nhập khẩu có điều kiện hoặc hàng cấm nhập khẩu, sau khi lô hàng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, DN sẽ tìm cách đưa trở lại Việt Nam bằng nhiều phương thức khác nhau: Chia nhỏ lô hàng vận chuyển về Việt Nam qua đường mòn, lối mở, cánh gà; hoặc DN mở tờ khai, lợi dụng việc phân luồng miễn kiểm tra để nhập khẩu trở lại Việt Nam.
Điển hình cho thủ đoạn trên, mới đây ngày 3/5/2017, Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Con Ong (doanh nghiệp đứng tên mở tờ khai hải quan) hoàn tất thủ tục hải quan cho lô hàng khai báo là mặt hàng thuốc tân dược gồm 41 kiện (gần 500 nghìn viên thuốc đặc trị các loại) có trọng lượng gần 1 tấn, trị giá gần 5 tỷ đồng, quá cảnh đi Campuchia  qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (Tây Ninh) và đã hoàn thành thủ tục hải quan theo đúng quy định để chuyển lô hàng này qua biên giới Việt Nam – Campuchia. Nhận định đây là chiêu thức của DN nhằm qua mặt lực lượng chức năng để thẩm lậu số hàng trên vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch, Chi cục đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ thông báo, phối hợp cùng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74) – Bộ Công an theo dõi chặt chẽ tuyến đường vận chuyển của lô hàng trên và đã phát hiện chuyến hàng được thẩm lậu ngược vào nội địa rạng sáng ngày 9/5/2017 qua đường mòn cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (Tây Ninh)… Hiện vụ việc đang được tiếp tục điều tra làm rõ.
3. Sau 4 năm triển khai thực hiện, Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” giai đoạn 1 (từ năm 2012 đến 2016) đã có tác động tích cực đến tâm lý tiêu dùng của người dân. Tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại các cơ sở khám, chữa bệnh tuyến tỉnh và huyện đã tăng. Tuy nhiên, tại tuyến trung ương, thuốc nội vẫn chưa khẳng định được "chỗ đứng". Vậy phải làm gì để thuốc nội không thua ngay trên sân nhà và người bệnh không quay lưng với thuốc Việt? Để thuốc nội không thua trên “sân nhà”! (báo Hà Nội mới 25/5).
Kết quả triển khai Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” giai đoạn 1 (từ năm 2012 đến 2016) cũng cho thấy, tỷ lệ thuốc nội được sử dụng tại bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện đã tăng. Song, tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước được sử dụng ở bệnh viện tuyến trung ương lại thấp hơn mục tiêu đề ra và có xu hướng giảm. Cụ thể, năm 2013, tỷ lệ này là 11,57%; đến năm 2014 là 11,31% và năm 2015 giảm còn 10,02%. Cá biệt, tỷ lệ sử dụng thuốc nội tại các bệnh viện lớn như Bạch Mai, K, Phụ sản trung ương, Bệnh nhiệt đới trung ương, Viện Lão khoa quốc gia… còn ở mức dưới 5%.
Lý giải vì sao thuốc nội bị “lép vế” trên sân nhà, bà Phạm Thị Việt Nga, Tổng Giám đốc Công ty Dược phẩm Hậu Giang cho rằng, tỷ lệ sử dụng thuốc nội ở bệnh viện tuyến trung ương còn thấp vì nơi đây chủ yếu tiếp nhận bệnh nhân nặng phải dùng thuốc đặc trị. Trong khi đó, thuốc nội chưa có nhiều nhóm thuốc đặc trị, chuyên sâu. Mặc dù vậy, muốn tăng tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại các bệnh viện, hoàn toàn có thể làm được. “Với triệu chứng sốt thông thường của người bệnh, bệnh viện chỉ cần sử dụng thuốc hạ sốt trong nước sản xuất là đã hiệu quả. Vấn đề đặt ra là, làm sao để bác sĩ có niềm tin vào chất lượng thuốc nội” - bà Phạm Thị Việt Nga đặt vấn đề.
Theo ông Trần Túc Mã, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Traphaco, không ít sản phẩm thuốc nội của công ty đạt danh hiệu “Ngôi sao thuốc Việt” và được bán khá tốt trên thị trường, nhưng tại các bệnh viện thì còn hạn chế. Nguyên nhân do việc đấu thầu thuốc còn nặng về giá, chưa có phân loại đấu thầu xếp hạng cho những sản phẩm nổi trội trên thị trường về chất lượng, đánh đồng về yếu tố kỹ thuật. Để tạo ra một sản phẩm tốt, doanh nghiệp phải chi phí đầu tư cho dây chuyền sản xuất rất lớn, từ chuẩn hóa nguyên liệu đầu vào, nghiên cứu khoa học đến bảo đảm hệ thống quản lý chất lượng toàn diện, đồng bộ. Đặc biệt, để thuốc nội vào được bệnh viện tuyến cuối, là nơi điều trị bệnh nhân nặng, các doanh nghiệp dược trong nước càng phải hướng đến tiêu chuẩn cao hơn nữa, khiến doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Trong giai đoạn 2, mục tiêu của Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” đặt ra là: Tỷ lệ sử dụng thuốc nội chiếm 30% tại các bệnh viện tuyến trung ương, 50% ở bệnh viện tuyến tỉnh và 75% ở bệnh viện tuyến huyện vào năm 2020.
Để đạt mục tiêu này, ông Nguyễn Tất Đạt, Phó Cục trưởng Cục Quản lý dược (Bộ Y tế) khẳng định, thời gian tới, Bộ sẽ chú trọng chỉ đạo các cơ sở y tế nêu cao y đức, thực hiện nghiêm túc các quy định về kê đơn, sử dụng thuốc sản xuất trong nước thông qua ký cam kết. Mặt khác, Bộ cũng yêu cầu các cơ sở y tế ưu tiên thuốc nội trong quá trình đấu thầu, sử dụng, lựa chọn thuốc để điều trị cho bệnh nhân.
Ngoài ra, Bộ Y tế sẽ giám sát, hỗ trợ các doanh nghiệp dược trong nước nâng cao chất lượng thuốc nội... Còn nhiệm vụ của các doanh nghiệp dược là phải tạo được lòng tin với người dân qua việc thông tin chính xác về thuốc sản xuất, công khai giá bán, đặc biệt là bằng chứng về hiệu quả điều trị. Đây là cách tốt nhất để kêu gọi người dân sử dụng thuốc nội mỗi khi phải dùng thuốc.
 
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH