< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 23 tháng 6 đến ngày 30 tháng 6 năm 2017

. VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1.Nghị quyết Trung ương 4 (NQTƯ4), khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đề ra 4 nhóm giải pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Trong đó, việc phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội (CT-XH), của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là một giải pháp rất quan trọng. Thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII: Tạo cơ chế thực sự để nhân dân thực hiện quyền giám sát (Báo Quân đội nhân dân 23/6).
NQTƯ4 khóa XII chỉ ra một nguyên nhân cụ thể dẫn đến những hạn chế, khuyết điểm trong nội bộ Đảng, là: "Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của MTTQ, các đoàn thể CT-XH, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao". Sự hạn chế đó biểu hiện ở một số mặt sau đây:
(1). Không ít vụ việc tiêu cực được quần chúng nhân dân phát hiện, nhưng không được cấp ủy, tổ chức đảng ngăn chặn, xử lý kịp thời hoặc giải quyết không hợp tình, hợp lý, thậm chí còn có hiện tượng bao che;
(2). Việc tổ chức để quần chúng tham gia góp ý kiến cho cán bộ, đảng viên, nhiều nơi còn mang tính hình thức, nhận xét, góp ý chung chung hoặc chỉ một chiều ca ngợi vì ngại va chạm;
(3). Một bộ phận quần chúng nhân dân có biểu hiện không tin tưởng vào cách giải quyết của cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể, nên dẫn đến khiếu kiện đông người, vượt cấp và kéo dài, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi, sử dụng đất;
(4). Tình trạng khiếu kiện nặc danh vẫn diễn ra nhiều, tuy không được các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết, nhưng vẫn gây ra nhiều luồng dư luận trái chiều, tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội…
Những hạn chế, tiêu cực nêu trên đều do việc lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền; công tác tuyên truyền, vận động, giám sát của mặt trận và các đoàn thể chưa tốt. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền thì có hiện tượng thiếu khách quan hoặc bị các "nhóm lợi ích" thao túng trong xử lý vụ việc; không bảo vệ người dũng cảm đấu tranh, phê bình, tố cáo đúng đắn; hoặc chưa có giải pháp mạnh mẽ, giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện, góp ý phê bình xuất phát từ những động cơ tiêu cực, bị kẻ xấu lợi dụng.
Mặt trận và đoàn thể có thời điểm chưa làm tốt vai trò là chỗ dựa để quần chúng nhân dân thực hiện phê bình, góp ý và giám sát cán bộ, đảng viên; hoặc chưa tuyên truyền, giải thích, đấu tranh, để những người khiếu kiện viết đơn, thư tố cáo chưa đúng pháp luật; chưa hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật.
Để nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát việc thực hiện NQTƯ4 khóa XII, các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị phải làm tốt công tác tư tưởng để nhân dân hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và tính cấp bách của nhiệm vụ tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Đặc biệt, phải làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ tính quyết liệt của việc ngăn chặn, đẩy lùi 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ theo quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp mà Trung ương đã xác định.
Trong lúc này rất cần quán triệt đầy đủ, thực hiện triệt để lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: Hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình để quần chúng nhân dân tin tưởng và thực hiện việc phê bình, góp ý kiến xây dựng Đảng với tất cả tấm lòng, trách nhiệm của mình.
Một yêu cầu quan trọng trong giải pháp này là muốn nhân dân tin vào Đảng và nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì các cấp ủy, tổ chức đảng phải thực sự quyết tâm, tỏ rõ thái độ nghiêm túc, quyết liệt khắc phục cho được những suy thoái trong tổ chức, nội bộ đã được chỉ ra. Các tổ chức, cấp ủy phải thẳng thắn nhìn nhận, phân tích, đánh giá đúng thực tiễn, rút ra những bài học trong thực hiện NQTƯ4 khóa XI để có chủ trương, biện pháp đúng đắn, khả thi trong triển khai thực hiện NQTƯ4 khóa XII.
 Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền phải chỉ ra được những vấn đề, vụ việc cụ thể mà cá nhân, tập thể đã vi phạm hoặc có biểu hiện vi phạm cùng với phương pháp xử lý, khắc phục, sửa chữa, không đánh giá chung chung. Nếu không làm được điều đó thì ngay trong cấp ủy, tổ chức đảng sẽ nảy sinh tình trạng: Với những sai phạm, khuyết điểm theo đánh giá của cấp ủy, tổ chức đảng thì cán bộ, đảng viên nào cũng thấy có mình ở trong đó, nhưng không ai nhận ra trách nhiệm của mình ở đâu, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu, mà quy kết hoàn toàn là do tập thể.
Tạo cơ chế thực sự để nhân dân thực hiện quyền giám sát, phải tập trung xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật để nhân dân thông qua MTTQ Việt Nam và đoàn thể của mình giám sát hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Ở từng cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp cần xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân; tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân.
MTTQ Việt Nam và các đoàn thể nhân dân triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của MTTQ Việt Nam thực hiện NQTƯ4, khóa XII được ban hành tại Hội nghị lần thứ 6 Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa VIII. Trong đó, tổ chức để nhân dân thực hiện giám sát và đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống và "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ bằng các hình thức: Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức CT-XH các cấp thực hiện nghiêm túc định kỳ và đột xuất tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp thông tin, ý kiến của nhân dân phản ánh, kiến nghị về những nội dung liên quan đến suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên để kiến nghị các cơ quan chức năng xử lý, thông tin kết quả thực hiện cho nhân dân biết.
MTTQ Việt Nam phối hợp thật tốt, có hiệu quả với báo chí trong việc giám sát, đấu tranh ngăn chặn quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện về suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên. Triển khai có hiệu quả Giải Báo chí toàn quốc "Báo chí với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí". Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên phối hợp triển khai giám sát hoạt động của các cơ quan chức năng trên cơ sở những nội dung đã thống nhất với Chính phủ về hoạt động giám sát giai đoạn 2016-2020...
Đẩy mạnh thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội bằng việc xây dựng luật về dân chủ trên cơ sở những kết quả đạt được sau khi tổng kết Pháp lệnh dân chủ cơ sở. Đây là giải pháp vừa giúp đẩy lùi, ngăn chặn tình trạng "lợi ích nhóm", vừa bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Đồng thời thực hiện ngay việc "Xây dựng và thực hiện quy định việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp".
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Bộ Chính trị sớm ban hành cơ chế thực hiện "Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo của MTTQ Việt Nam" để khắc phục tình trạng các tổ chức đảng và lãnh đạo cấp ủy Đảng mới chỉ thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận, còn vai trò thành viên thì chưa rõ.
Thực hiện tốt vai trò giám sát của nhân dân trong triển khai thực hiện NQTƯ4 khóa XII của Đảng nhất định sẽ nâng cao sự vững mạnh của cấp ủy, tổ chức đảng, củng cố sự liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.
2. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đang tính tới đề xuất hình thành cơ chế giảm những quy định gây rủi ro cho doanh nghiệp. Đứng đầu cơ chế này phải là một đơn vị độc lập. Cắt hàng nghìn "điều kiện cha, điều kiện con" gây rủi ro cho doanh nghiệp: Cần một đơn vị độc lập (Báo Đầu tư 25/6).
3.407 là con số vừa được CIEM cập nhật về tổng số điều kiện kinh doanh đang được áp dụng cho 234 ngành nghề kinh doanh có điều kiện. So với con số 5.826 điều kiện kinh doanh được áp dụng đối với 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư 2014, một phần lớn đã được cắt giảm. Ở đây, vai trò của 50 nghị định về điều kiện kinh doanh được ban hành và có hiệu lực vào tháng 7/2016 và Luật sửa đổi, bổ sung điều 6 và phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư (có hiệu lực từ ngày 1/1/2017 và 1/7/2017 tới tùy theo quy định cụ thể).
Nhưng, bức tranh hiện hữu về điều kiện kinh doanh chưa có được những thay đổi thực sự đột phá so với trước. Trong không ít quy định, ngay cả khi doanh nghiệp đã hoàn tất các điều kiện, nhưng nếu không được cơ quan quản lý ghi nhận hoặc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện, thì cánh cửa pháp lý để doanh nghiệp bước vào kinh doanh vẫn đóng. Có nghĩa là, nếu chỉ cải thiện điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp vẫn không thể có một môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng, rõ ràng, có thể tiên lượng…
12 năm trước, sau khi Luật Doanh nghiệp 2005 được ban hành, mô hình máy chém chính sách của Hàn Quốc đã được các chuyên gia kinh tế chọn để nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm. Sự nở rộ tràn lan của điều kiện kinh doanh dưới đủ mọi hình thức, khiến cả doanh nghiệp và giới nghiên cứu bức xúc.
Phải nói thêm, trước đó, vào thời điểm 2000-2003, cuộc chiến với giấy phép con lần đầu tiên được Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp khởi xướng đã tạo nên một không khí rất mới trong xây dựng cơ chế - chính sách liên quan đến kinh doanh. Trong vòng 2 năm, khoảng 160 giấy phép kinh doanh bất hợp lý đã được bãi bỏ theo đề nghị của Tổ công tác.
Khi đó, các chuyên gia kỳ vọng sẽ tạo nên bước ngoặt trong tư duy về điều kiện kinh doanh nhờ mô hình cắt xén. Hàn Quốc khi áp dụng cơ chế này đã giảm gần một nửa số văn bản pháp luật trong vòng hai năm (11.125 văn bản vào đầu năm 1998 còn 6.308 văn bản vào cuối năm 1999 - chưa kể 2.411 văn bản được điều chỉnh).
Nhưng mô hình trên chưa hội tụ điều kiện để thực hiện. Cuộc cải cách về điều kiện kinh doanh mà Luật Đầu tư 2014 đặt nền tảng đã thành công trong việc hạn chế sự tùy tiện trong ban hành điều kiện kinh doanh ở các bộ, ngành, địa phương.
Vấn đề là, rủi ro kinh doanh tiếp tục ẩn chứa trong các văn bản hướng dẫn thực thi các điều kiện kinh doanh. Đầu mối ban hành các văn bản này là các cơ quan quản lý chuyên ngành.
Nguyên tắc của cơ chế này là bất cứ quy định nào được đánh giá là tạo rủi ro, gây gia tăng chi phí, hạn chế cạnh tranh, tạo các tác động không cân xứng đền khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ bị cắt bỏ. Tư duy rà soát cũng phải theo nguyên tắc quản lý nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp, xóa bỏ sự can thiệp của nhà nước vào thị trường. Tuy nhiên, cái khó của đề xuất này chính là tính độc lập của bộ phận này. Bởi, nếu có bất cứ sự liên quan lợi ích nào tới các điều kiện kinh doanh, thì cơ chế này sẽ không phát huy tác dụng.

3. Nghị quyết về thí điểm xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng (TCTD) vừa được Quốc hội thông qua với nhiều quy định đặc thù cho các ngân hàng để xử lý nợ xấu, như: Ngân hàng thu giữ tài sản đảm bảo: Thận trọng để tránh tác động tiêu cực (Thời báo Tài chính 23/6).

Quyền thu giữ tài sản đảm bảo, áp dụng thủ tục rút gọn trong tranh chấp tài sản đảm bảo, bán nợ xấu dưới giá trị sổ sách… Đại biểu Lưu Bình Nhưỡng, Ủy viên Thường trực Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội có cuộc trao đổi về các nội dung mới này. 
Theo đại biểu Lưu Bình Nhưỡng: Đây cũng là vấn đề nhiều người lo lắng, có ý kiến khác nhau. Vấn đề không chỉ liên quan đến việc xử lý các tài sản có giá trị lớn mà còn liên quan đến các vấn đề xã hội, dân sinh. Một mặt, chúng ta phải đảm bảo quyền chính đáng của các TCTD, nhưng mặt khác cũng phải đảm bảo tránh những ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội, nhất là với những tài sản có nhiều người cùng liên quan, hay tài sản liên quan đến người có công... Trong trường hợp này, tôi cũng gửi một lời đề nghị đến các TCTD khi thực hiện quyền này phải hết sức cân nhắc, tránh gây ra những xung đột trong xã hội, làm ảnh hưởng đến chính trị, đến Nhà nước, ảnh hưởng đến hình ảnh của doanh nghiệp kinh doanh có đạo đức.
Khi đặt ra thủ tục rút gọn trong Bộ Luật tố tụng dân sự, và kể cả trong Bộ Luật hình sự, chúng ta đã dự liệu trường hợp này, do đó nội dung này đã được áp dụng vào Nghị quyết. Tuy nhiên, những trường hợp còn lại, giải quyết theo quy trình thông thường thì không đảm bảo thúc đẩy nhanh quá trình thu hồi nợ tín dụng. Mà nợ tín dụng khi bị ách tắc lại đã ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

4. Lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) khẳng định, tới đây sẽ làm rõ Uber và Grab thuộc loại hình vận tải nào để quản lý chặt. Định danh ngành nghề Uber, Grab để quản lý (Báo Giao thông 29/6).

Tại Hội nghị đối thoại về vận tải khách bằng xe taxi thí điểm ứng dụng hợp đồng điện tử do Bộ GTVT tổ chức ngày 28/6, nhiều ý kiến tranh luận nảy lửa về xung đột giữa hai loại hình taxi truyền thống và taxi công nghệ.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Tiến Long, Trưởng ban thư ký Hiệp hội taxi Hà Nội nêu, sau gần 2 năm thí điểm, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã có gần 40.000 xe hoạt động theo loại hình này. Như vậy, số lượng Grab và Uber gần gấp rưỡi số xe taxi hoạt động suốt 30 năm qua.
Về giá cước của Grab, Uber, ông Trương Đình Quý, Phó Tổng Giám đốc taxi Vinasun cho rằng, không chênh lệch và không thấp hơn taxi, nhưng Grab và Uber rẻ hơn vì có nhiều chương trình khuyến mãi. “Phải dừng cấp phù hiệu xe hợp đồng dưới 9 chỗ và coi đây là loại hình taxi, quản lý giống như taxi, đồng thời tạm dừng mở rộng thí điểm hợp đồng điện tử”, ông Quý gay gắt nói.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Giám đốc chính sách của Uber Việt Nam cho biết: “Uber không phải là hãng taxi, cũng không phải là doanh nghiệp vận tải, không trực tiếp cung cấp dịch vụ vận tải và không sở hữu bất kỳ phương tiện vận tải nào. Tại Việt Nam, Uber hoàn toàn tuân thủ theo pháp luật Việt Nam, tham gia thí điểm theo đúng quy định, nộp thuế theo đúng quy định của Tổng cục Thuế”.
Liên quan đến các ý kiến trên, ông Hà Huy Quang, Phó giám đốc Sở GTVT Hà Nội nêu quan điểm cho rằng, bất cập hiện nay là do số lượng xe hợp đồng tăng quá nhanh so với quy hoạch taxi. “Hà Nội đề nghị tạm dừng thí điểm về số lượng doanh nghiệp, phương tiện tham gia loại hình hợp đồng điện tử. Đồng thời, đề nghị Bộ GTVT cho phép Hà Nội quản lý logo. Nếu muốn quản lý được số lượng xe, phải quản được logo cấp phát”, ông Quang nói.
Tuy nhiên, không đồng tình với đề xuất này, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hồng Trường khẳng định: “Bộ GTVT đã ủy quyền cho 5 tỉnh, thành tham gia thí điểm quy định số lượng xe. Các Sở GTVT phải tham mưu cho chính quyền để quản lý tốt việc này, bộ không làm thay được, số lượng xe, thời gian do UBND tỉnh, thành phố quyết định”.
Cùng đó, Thứ trưởng Trường cho rằng, Quyết định 24 của Thủ tướng cho phép cung cấp hợp đồng vận tải điện tử, không phải mở rộng thêm hãng taxi. Dịch vụ này ứng dụng trên phần mềm là chính, còn số lượng xe thực tế cũng như số lượng xe đăng ký phải theo quản lý của địa phương. Về phù hiệu, logo xe hợp đồng, Thứ trưởng Trường cho biết, thời gian tới sẽ giao cho UBND tỉnh, thành quyết định. Nếu cần thiết thay đổi logo thống nhất toàn thành phố để quản lý tốt hơn.
Tại cuộc đối thoại, ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam thẳng thắn nêu ý kiến: “Chúng tôi không phản đối áp dụng khoa học kỹ thuật vào điều hành vận tải. Hiện, còn nhiều ý kiến khác nhau về nhận diện loại hình Uber, Grab. Bộ GTVT cho rằng, đây là loại hình xe hợp đồng. Các hãng taxi truyền thống cho là xe taxi. Còn Uber và Grab lại không nhận mình là taxi. Chúng ta chưa nhận diện chính xác nó thuộc loại hình nào thì không quản lý được”.
Về vấn đề này, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Trường cho rằng, Bộ GTVT sẽ tiếp thu các ý kiến để làm rõ loại hình vận tải của Grab và Uber, là cung cấp dịch vụ hay làm vận tải hay cả hai chức năng này. Trong văn bản hiện nay đang quy định đây là loại hình xe hợp đồng điện tử. Khi xuất hiện Uber, Grab loại hình này sẽ như thế nào. Bộ GTVT sẽ tiếp thu để đưa vào sửa đổi Nghị định 86 sắp tới để có giải pháp quản lý thích hợp. “Tuy nhiên, tôi cho rằng đây là loại hình vận tải công cộng. Chúng ta cần có giải pháp để khẳng định mô hình này trong tương lai sẽ vẫn tồn tại”, Thứ trưởng Trường khẳng định và cho biết thêm, cuối năm nay sẽ kết thúc thíđiểm, sẽ có tổng kết 2 năm mô hình thí điểm hợp đồng điện tử, đưa ra giải pháp quản lý tốt hơn.
Hiện, Bộ GTVT vẫn tiếp tục xin ý kiến về Nghị định 86, trong đó có một chương quy định về xe hợp đồng điện tử sẽ cụ thể để quản lý tốt hơn, hay sẽ bổ sung chế tài vào Nghị định 46 để xử phạt nghiêm. Tới đây, Bộ GTVT sẽ làm việc với Grab và Uber, sẽ mời lãnh đạo các thành phố thí điểm, lãnh đạo Bộ Công thương, Tư pháp để làm rõ hơn về mô hình.

II. KINH TẾ PHÁT TRIỂN

1.Tạo độc quyền cho hai “ông lớn” bán gạo, nhiều doanh nghiệp khác buộc phải ngừng xuất khẩu. Cấm xuất khẩu gạo là hết sức vô lý (Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh 23/6).

Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) mới đây đã có công văn số 164/CV/HHLTVN gửi các công ty xuất khẩu gạo nêu rõ: Tổng Công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Tổng Công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) được Chính phủ chỉ định là đầu mối đàm phán, ký kết xuất khẩu gạo vào một số thị trường tập trung như Bangladesh, Malaysia và chuẩn bị dự thầu mua gạo của Philippines.
Bên cạnh đó, VFA cho biết sẽ báo cáo Bộ Công Thương các trường hợp vi phạm được phát hiện để bộ này xem xét, xử lý theo quy định. Bởi theo VFA, Thông tư số 44/2010 của Bộ Công Thương quy định: Thương nhân không được giao dịch, ký kết hợp đồng xuất khẩu gạo hoặc để bên mua tái xuất gạo vào thị trường có hợp đồng tập trung trong thời gian quy định, trừ trường hợp được Bộ Công Thương chấp thuận bằng văn bản…
Phản ứng trước công văn trên, nhiều doanh nghiệp (DN) cho rằng quy định này tạo ra độc quyền cho Vinafood 1 và Vinafood 2 khiến DN khác mất đối tác, mất thị trường và gây thiệt hại cho hạt gạo Việt.
Ông Phạm Thái Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An, đánh giá: “Đây là quy định hết sức bất hợp lý. Lý do là các hợp đồng thương mại của DN không liên quan đến hợp đồng tập trung giữa hai chính phủ. Vì vậy việc buộc các đơn vị khác phải tạm ngừng xuất khẩu theo hợp đồng thương mại vào các thị trường tập trung là không thể chấp nhận được và nó đi ngược lại xu hướng tự do kinh doanh, thương mại”.
Chia sẻ quan điểm này, ông Nguyễn Văn Đôn, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng, cho biết đây không phải là lần đầu tiên VFA đưa ra quy định trên mà gần như năm nào cũng vậy. Cụ thể cứ đến thời điểm đàm phán các thị trường tập trung như Malaysia, Indonesia, Cuba, Philippines, Bangladesh… thì VFA lại ra văn bản buộc các DN phải tạm ngừng xuất khẩu vào các thị trường này.
Đến khi Vinafood 1 và 2 đấu thầu xong thì những đơn vị khác mới được xuất khẩu trở lại. Nguyên nhân có thể là do VFA sợ những công ty khác chào bán giá thấp, nhất là bán cho các nhà nhập khẩu ở các thị trường tập trung sẽ cạnh tranh với hai “ông lớn” là Vinafood 1 và 2.
Thế nhưng khi hai tổng công ty trên ký kết hợp đồng tập trung thì không phải lúc nào hạt gạo Việt cũng được hưởng lợi. Ông Đôn dẫn chứng hồi tháng 5-2017, Vinafood 1 ký kết xuất khẩu sang Malaysia 120.000 tấn gạo loại 5% tấm với giá bán quá thấp, chỉ hơn 356 USD/tấn. Với mức giá này, DN nào được phân bổ xuất khẩu theo hợp đồng tập trung sẽ lỗ. Biết là lỗ nhưng vẫn phải làm vì không giao hàng theo phân bổ thì DN bị cắt chỉ tiêu phân bổ hợp đồng xuất khẩu gạo vào thị trường tập trung trong một năm, theo quy định của VFA.
Đại diện một công ty xuất khẩu gạo cũng cho rằng khi có hợp đồng tập trung với càng nhiều quốc gia khác nhau thì cũng đồng nghĩa các DN xuất khẩu gạo theo diện hợp đồng thương mại lại càng khó tìm kiếm thị trường cho mình. Điều này là không tốt cho hạt gạo Việt.
Trước sự phản ứng của cộng đồng DN, VFA cho biết vừa có văn bản cho phép các thương nhân được ký hợp đồng thương mại ở thị trường tập trung trở lại đối với các loại gạo thơm, nếp và tấm.Tuy nhiên, đại diện nhiều DN và chuyên gia cho rằng động thái trên của VFA là chưa đủ. Vấn đề cốt lõi nhất là Bộ Công Thương và VFA cần nhanh chóng tháo gỡ những quy định hạn chế quyền kinh doanh hợp pháp và gây cản trở cho DN xuất khẩu gạo; tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng để các DN có thể xuất khẩu gạo vào tất cả thị trường chứ không chỉ một vài đơn vị.
Giám đốc Công ty Gạo Việt, ông Nguyễn Thanh Long, nêu quan điểm: “Việc chỉ tạo điều kiện cho hai tổng công ty lương thực “độc chiếm” thị trường tập trung cần phải thay đổi. Cần có cách quản lý khác. Ví dụ trước khi ký kết các hợp đồng tập trung phải cho DN hội viên của hiệp hội biết ký bán giá có hợp lý chưa, số lượng dự tính xuất khẩu bao nhiêu, tồn kho của DN có đủ cung ứng hợp đồng…”.
Cùng quan điểm, TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Kinh tế Chính sách (VEPR), cho rằng DN ký các lô hàng xuất khẩu gạo quy mô nhỏ không liên quan đến hợp đồng tập trung thì nên để họ tiếp tục làm. Còn hợp đồng tập trung xuất khẩu các lô hàng lớn thì cần tập trung về một số đầu mối nhưng phải có sự đồng thuận giữa các DN trong hiệp hội; thông tin phải minh bạch trước khi ký kết và công khai hợp đồng tập trung.
Nhiều ý kiến khác tán đồng quan điểm trên và đề nghị nên thực hiện các hợp đồng tập trung theo hướng thông qua cơ chế đấu thầu công khai. Bởi nếu duy trì cơ chế như hiện nay sẽ tiếp tục đẩy các công ty xuất khẩu gạo vào thế bị động và chịu thiệt hại lớn vì bị hạn chế cơ hội kinh doanh, xuất khẩu, đặc biệt là mỗi khi có hợp đồng tập trung thì VFA lại ra văn bản cấm.

2. Không dồn dập những dự án khủng, nhưng bù lại, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Hà Nội lại ngày càng được nâng cao về chất lượng. Là một đầu tàu kinh tế, Hà Nội đã thực hiện tốt quyền lựa chọn dự án của mình, song vẫn giữ vững vị trí top 5 địa phương thu hút nhiều FDI nhất cả nước. Đầu tư nước ngoài vào Hà Nội: “Sóng” sẽ dồn mạnh hơn (Báo Đầu tư 27/6).

Không giống như nhiều địa phương khác trong cả nước, dồn dập đón các dự án đầu tư “hàng khủng”, kiểu như các tổ hợp sản xuất quy mô hàng tỷ USD, Hà Nội lặng lẽ hơn nhiều trong việc thu hút FDI. Không nhiều thông tin liên quan đến các dự án quy mô lớn mà Hà Nội cấp chứng nhận đầu tư được công bố.
6 tháng đầu năm nay, con số được Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội dự kiến là khoảng 1,058 tỷ USD. Thậm chí, nếu điểm danh các dự án FDI quy mô lớn đăng ký vào Việt Nam kể từ đầu năm tới nay, Hà Nội có thể đóng góp tới 3 dự án, nếu tính cả dự án vừa được cấp chứng nhận đầu tư vào đầu tháng 6 vừa qua - Aeon MALL Hà Đông, với vốn đầu tư đăng ký 192,51 triệu USD. Dự án còn lại là dự án tăng vốn đầu tư 319,8 triệu USD của Coca-Cola Việt Nam và Dự án Park City 72 triệu USD. Nói đúng hơn, FDI vẫn đang lặng lẽ… đổ bộ vào Hà Nội.
Năm ngoái, cũng đã có hàng loạt dự án FDI đổ vào lĩnh vực này ở Hà Nội. Chẳng hạn, Dự án đầu tư mua sắm và vận hành hệ thống kỹ thuật, thiết bị, công nghệ, phần mềm và kinh doanh xổ số tự chọn số điện toán Vietlott (210 triệu USD); Dự án Công ty Vietnamobile tăng vốn (208 triệu USD); hay Dự án Ngân hàng Public Việt Nam (134 triệu USD)…
Chưa kể, chuyện Hà Nội thu hút được Dự án Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (R&D) 300 triệu USD của Samsung cũng là thành tích đáng ghi nhận. Điều này càng chứng minh, chất lượng dòng vốn FDI vào Hà Nội đã ngày càng được nâng cao.
FDI vào Hà Nội đã có thời điểm chững lại. Lý do đã được các lãnh đạo Thành phố phân tích là do, sau khi sáp nhập, cần phải xem xét, xây dựng và thông qua các quy hoạch. Nhưng tình hình đã khác, năm 2016, Hà Nội thu hút 3.116 triệu USD (tăng 2,9 lần so với năm 2015, vượt kế hoạch năm 2016 đề ra 2,2 lần), Đứng thứ 2 sau TP. Hồ Chí Minh là 3,42 tỷ USD.
Tình hình ngày càng được cải thiện, khi 6 tháng đầu năm, con số đã là khoảng 1,1 tỷ USD. Và chắc chắn sẽ nhanh chóng tăng cao, khi không ít dự án quy mô lớn vẫn đang chờ được cấp chứng nhận đầu tư. Ngày hôm nay (25/6), trong khuôn khổ Hội nghị Hợp tác đầu tư và Phát triển, sẽ có những thỏa thuận mới được ký kết.
Thêm nữa, theo thông tin từ Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, Thành phố đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư để thu hút nhiều hơn nữa vốn đầu tư cả trong và ngoài nước. Nhiều giải pháp đã được nhắc tới, như tạo thuận lợi trong tiếp cận đất đai, sử dụng quỹ đất, mặt bằng phục vụ đầu tư, kinh doanh; nâng cao hiệu quả công tác điều hành, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến đầu tư...
Một tin vui đối với Hà Nội, đó là Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức ban hành một nghị định riêng, theo đó cho phép áp dụng cơ chế riêng cho Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Chẳng hạn, cho phép các dự án đầu tư tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, cho phép áp dụng cơ chế một cửa, ưu tiên bố trí quỹ đất để phát triển nhà ở cho người lao động...
Khu công nghệ cao Hòa Lạc, sau gần 20 năm phát triển èo uột đã có cơ hội để thúc đẩy thu hút đầu tư, ít nhất là như Khu công nghệ cao Sài Gòn (SHTP). Đây cũng là cơ hội để Hà Nội thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, thu hút đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia - một định hướng ưu tiên trong thu hút FDI mà Hà Nội đã xác định nhiều năm nay.
Ngoài các dự án công nghệ cao, các dự án đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia, Hà Nội cũng xác định khuyến khích các dự án phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghệ sinh học, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường; các dự án lĩnh vực công nghệ thông tin, phát triển nông nghiệp, thực phẩm sạch an toàn... Và đặc biệt, là các dự án hạ tầng quy mô lớn.
Không ngần ngại, Hà Nội đã bày tỏ thẳng thắn mong muốn rằng, các nhà đầu tư Nhật Bản sẽ đầu tư vào các dự án đường sắt đô thị, các dự án đầu tư xây dựng cầu bắc qua sông Hồng, các tuyến đường vành đai, hoặc các tuyến metro, các bãi đỗ xe ngầm, các khu đô thị vệ tinh...
Sẽ không chỉ là vốn FDI, kêu gọi đầu tư các dự án này cũng có nghĩa Hà Nội cũng đã xác định đẩy mạnh thu hút đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP). 6 tháng đầu năm, Hà Nội đã thu hút được 24 dự án PPP, với tổng vốn đầu tư 32.103 tỷ đồng. Một sự chuyển hướng rất hợp lý, hứa hẹn tới đây, thực sự sẽ có những làn sóng đầu tư mạnh mẽ đổ vào Hà Nội.
4. Sáu tháng đầu năm nay, đã có trên 19,2 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam. Đây là một tín hiệu tích cực cho thấy, rất có thể, năm 2017 sẽ lại có những kỷ lục mới được thiết lập. Thu hút FDI hứa hẹn những kỷ lục mới (Báo Đầu tư 28/06).
Sau nhiều tháng ngày “an tâm” ở các vị trí thứ hai, thứ ba, thậm chí có lúc bị đẩy xuống vị trí thứ 4, Nhật Bản cuối cùng đã quay trở lại với vị trí quán quân trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017.
Tất nhiên, nếu tính lũy kế, Nhật Bản vẫn xếp hạng thứ hai sau nhà đầu tư Hàn Quốc. Tuy nhiên, tính theo năm, thì cho tới giờ này, có thể nói, Nhật Bản đã có một cuộc soán ngôi ngoạn mục. Họ đã quay trở lại với vị trí thứ nhất sau một thời gian dài “để mất” vào tay nhà đầu tư Hàn Quốc.
Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), 6 tháng đầu năm nay, các nhà đầu tư Nhật Bản đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 5,08 tỷ USD. Trong khi đó, con số này của nhà đầu tư Hàn Quốc là 4,95 tỷ USD. 
Có một sự thay đổi ngoạn mục như vậy, rất dễ thấy là nhờ Dự án Nhiệt điện Nghi Sơn 2, sau nhiều năm chờ đợi đã được cấp chứng nhận đầu tư vào đầu tháng 6 vừa qua, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Chỉ riêng vốn đăng ký đầu tư của dự án này đã gần 2,8 tỷ USD.
Đã từ rất lâu, có lẽ phải từ thời điểm 2012 -2013, sau khi Dự án Thành phố mới Bình Dương Tokyu và Dự án Bridgestone được cấp chứng nhận đầu tư, với vốn đăng ký cùng là 1,2 tỷ USD, mới lại thấy có một dự án tỷ USD của nhà đầu tư Nhật Bản đăng ký vào Việt Nam.
Khoản vốn lớn của Dự án Nhiệt điện Nghi Sơn 2 đã đóng vai trò gần như là quyết định vị trí đứng đầu của nhà đầu tư Nhật Bản. Tất nhiên, còn phải kể tới sự “tiếp sức” của 2 dự án Trung tâm Thương mại Aeon MALL Hà Đông và Sân golf Sakura Hải Phòng. Cả hai dự án này cùng được trao chứng nhận đầu tư vào đầu tháng 6 vừa qua, tại Nhật Bản, với vốn đầu tư đã lên tới hàng trăm triệu USD.
Ngoài sự soán ngôi của nhà đầu tư Nhật Bản, thì trong tháng 6, cũng đã ghi nhận sự soán ngôi của Thanh Hóa. Nhờ đại dự án Nhiệt điện Nghi Sơn 2, Thanh Hóa đã vươn lên trở thành địa phương thu hút được nhiều vốn FDI nhất. Tổng số vốn FDI mà Thanh Hóa thu hút được trong nửa đầu năm là 3,06 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam.
Vốn FDI vào Việt Nam vẫn đang trong xu hướng tăng mạnh và đó là điều đáng mừng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, điều quan trọng là làm sao đẩy nhanh vốn đầu tư đã đăng ký.
Số liệu cho biết, vốn FDI giải ngân trong 6 tháng đầu năm ước đạt 7,72 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2016. Mức tăng này đã được cải thiện so với những tháng đầu năm. Mặc dù vậy, khi thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIV mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội cũng đã bày tỏ sự băn khoăn trước khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Cũng rất nhiều quan điểm cho rằng, trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, cần tạo điều kiện để các dự án FDI nhanh chóng giải ngân, qua đó giúp tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng.
Trong khi đó, liên quan đến thu hút FDI, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã khẳng định rằng, cần chủ động thu hút FDI theo đúng định hướng mà Chính phủ đã đặt ra, là tập trung vào các dự án công nghệ cao, hiện đại, các dự án của các tập đoàn đa quốc gia...
Liên quan tới vấn đề này, tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) giữa kỳ 2017, một trong những nội dung được tập trung thảo luận, thậm chí còn là chủ đề chính của Diễn đàn, đó là tăng cường liên kết khu vực FDI với đầu tư trong nước trong bối cảnh mới của nền kinh tế. Chỉ khi sự liên kết này là chặt chẽ và hiệu quả, thì mới thực sự tối ưu hóa được lợi ích của dòng vốn FDI. Và khi đó, thu hút FDI nhiều mới thực sự có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế.
5. Nhiều nhà thầu đang có nguy cơ trở thành con nợ, thậm chí phá sản do quá tin vào những lời hứa hẹn ban đầu trong quá trình thực hiện hợp đồng với chủ đầu tư, đặc biệt tại các dự án vốn ngân sách. Ai đang chiếm dụng vốn xây dựng cơ bản? (Báo Diễn đàn doanh nghiệp 30/6).
Theo công bố của Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam, năm 2015 số nợ đọng xây dựng cơ bản mà các nhà thầu phải gánh lên tới hơn 11.000 tỷ đồng. Điều đáng nói là cho đến nay, số nợ nói trên không những chưa thể xử lý dứt điểm mà ngày càng phình to ra.
Nổi tiếng trong lĩnh vực thi công các công trình thủy điện, nhiệt điện với hàng trăm công trình lớn nhỏ cùng làm một lúc, nhưng lãnh đạo Công ty CP LILAMA 10 không tránh khỏi đau đầu vì tình trạng nợ đọng kéo dài.
Ông Nguyễn Thế Trinh - Phó Tổng giám đốc LILAMA 10 cho biết, Hợp đồng dự án Nhà máy Xi măng Bút Sơn được LILAMA 10 ký 80 tỷ đồng. Nhà máy đã hoàn thành từ năm 2010 nhưng đến nay chủ đầu tư vẫn chưa đòi được hết nợ. Hay dự án nhà máy thủy điện Bản Chát đã được ký từ lâu, qua nhiều lần làm rồi hoãn, cũng đã qua mấy kỳ tăng lương, đến nay số tiền thanh toán vẫn chưa được một nửa. Công trình này ước giá trị thi công hơn 100 tỷ đồng, đến nay chủ đầu tư mới thanh toán được khoảng 40 tỷ.
Như vòng luẩn quẩn, chủ đầu tư nợ tiền thi công, nhà thầu phải đi vay tiền ngân hàng để làm. Nợ cũ không đòi được, trong khi đó nhà thầu vẫn tiếp tục phải vay tiền để thực hiện các dự án mới, hoặc tiếp tục các dự án cũ. Vô hình trung, nhà thầu vừa là “chủ nợ”, lại vừa là “con nợ” của ngân hàng. Đặc biệt, nợ đọng lại tồn tại ở những dự án vốn ngân sách, chính vì vậy ông Nguyễn Bá Dương - Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc COTECCONS phải tuyên bố không làm các công trình có vốn ngân sách, thay vào đó họ chỉ nhận những công trình vốn tư nhân của các chủ đầu tư lớn.
Mặc dù Thủ tướng đã có nhiều văn bản nhắc nhở về nợ đọng trong xây dựng cơ bản. Đầu tiên phải kể đến Chỉ thị 27/CT-TTg ban hành tháng 10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các địa phương có trách nhiệm định kỳ 6 tháng hàng năm báo cáo tình hình và kết quả xử lý nợ đọng XDCB về Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; bảo đảm trước ngày 20/5/2013 phải xử lý được ít nhất 30% khối lượng nợ đọng XDCB.
Tiếp đó, ngày 24/5/2013, Thủ tướng Chính phủ lại có Chỉ thị số 09/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ Tài chính - NSNN năm 2013 yêu cầu “tiếp tục đẩy mạnh việc xử lý nợ đọng XDCB”. Thế nhưng, trong bản báo cáo của Bộ Tài chính đưa ra tại buổi họp báo ngày 19/7/2013, mới chỉ thấy báo cáo là đã “tập trung vốn cho trả nợ khối lượng XDCB hoàn thành và thực hiện các công trình có khả năng hoàn thành trong năm 2013 để bảo đảm hiệu quả đầu tư”... Nhưng cũng chẳng tìm ra được số liệu cụ thể nào về giải quyết nợ đọng. Còn DN đã lỡ tham gia thi công các công trình của nhiệm kỳ đã qua có khó khăn thì cũng “ngậm bồ hòn” và các DN xây dựng ít khi dám khởi kiện các cấp chính quyền cho dù thừa đủ yếu tố pháp lý để khởi kiện.
Để hạn chế tình trạng trên, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ sớm xây dựng Luật quản lý quy hoạch các công trình xây dựng cơ bản. Chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc Luật Đầu tư công. Cùng đó là tăng cường kiểm toán, thanh tra, giám sát đối với từng công trình xây dựng. Công khai minh bạch những cơ quan, DN thực hiện không nghiêm Luật Đầu tư công để nợ đọng XDCB kéo dài, số dư lớn.
Một biện pháp quan trọng nữa là thực hiện xử lý và truy cứu trách nhiệm cả tập thể và các cá nhân sai phạm trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước của Chính phủ - Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra việc nợ đọng vốn trong đầu tư XDCB.

6. Một nguyên nhân lớn cho những tồn tại, hạn chế của ngành ngân hàng là nợ xấu. Đây là điểm nghẽn lâu năm mà chưa có biện pháp giải quyết rốt ráo. Vì thế, khi Quốc hội thông qua Nghị quyết xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, giới tài chính – ngân hàng có thể “thở phào” vì nhiều vướng mắc sẽ có cơ sở để giải quyết. Nợ xấu và lãi suất sẽ “dễ thở” hơn? (Báo Hải quan 29/6).

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tỉ lệ nợ xấu đang chiếm khoảng 10,08% dư nợ và tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế (tổng dư nợ tín dụng hiện đạt khoảng 5,5 triệu tỷ đồng). Tuy nhiên, nhiều chuyên gia lo ngại con số thực tế có thể lớn hơn bởi nợ xấu còn tiềm ẩn trong các khoản nợ khác do các ngân hàng cơ cấu lại hoặc đảo nợ... Hơn nữa, trong hoạt động hàng ngày của các tổ chức tín dụng, nợ xấu vẫn luôn tiềm ẩn và phát sinh do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. NHNN cho hay, tính trung bình những năm qua thì nợ xấu phát sinh hàng năm từ 1,3-1,5%. Chính vì thế, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng được kỳ vọng sẽ rã “cục máu đông” nợ xấu nhiều năm qua.
Theo đó, Nghị quyết quy định thí điểm một số chính sách về xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đồng thời, Nghị quyết cũng quy định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, Quốc hội đã thống nhất phạm vi áp dụng là các khoản nợ phát sinh trước ngày 15/8/2017.
Về vấn đề này, các chuyên gia nhận xét, Nghị quyết của Quốc hội đã đưa ra phương hướng quan trọng giúp hệ thống ngân hàng xử lý nợ xấu, đặc biệt là việc xử lý tài sản đảm bảo; Hơn nữa còn giúp hình thành thị trường mua bán nợ, cho phép các tổ chức tín dụng, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) bán các khoản nợ xấu và các tài sản đảm bảo khoản nợ theo giá thị trường và theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, Nghị quyết của Quốc hội còn giúp đảm bảo quyền lợi của chủ nợ, đồng nghĩa với việc đảm bảo quyền của người gửi tiền.
Báo cáo tại Quốc hội, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng cho biết, tính đến 31/12/2016, nợ xấu nội bảng của các tổ chức tín dụng là trên 150.000 tỷ đồng, chiếm 2,52% tổng dư nợ. Tổng nợ xấu mà VAMC đã mua nhưng chưa xử lý được là trên 195.000 tỷ đồng, chiếm 3,29% tổng dư nợ. Như vậy, nếu tính tổng nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý được, nợ có nguy cơ tiềm ẩn thì tổng nợ xấu trong toàn hệ thống là 10,08% tổng dư nợ, tương đương khoảng 600.000 tỷ đồng. Vì thế, TS. Nguyễn Đức Hưởng, Cố vấn cao cấp LienVietPostBank cho rằng, Nghị quyết được kỳ vọng sẽ giúp đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, giải phóng lượng vốn khổng lồ lên tới hơn 600.000 tỷ đồng kẹt trong nợ xấu và tiềm ẩn thành nợ xấu; hơn nữa, Nghị quyết còn góp phần khơi thông dòng chảy vốn tín dụng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, “cục máu đông” nợ xấu sẽ dần dần tan chảy có ích cho nền kinh tế xã hội.
Mặc dù vẫn còn một số ý kiến trái chiều, cũng như một vài băn khoăn như quy định về giới hạn thời gian nợ xấu được áp dụng, nguyên tắc không sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu… có thể khiến Nghị quyết không đạt được như kỳ vọng. Nhưng dù sao, “có còn hơn không”, bởi vấn đề nợ xấu đã rất cấp bách, đang “ăn mòn” nhiều vấn đề trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.
Trong bối cảnh hiện nay, lạm phát đã giảm, tỷ giá đã ổn định thì lãi suất đã có nhiều cơ hội để giảm xuống, nhưng khi mối nguy nợ xấu vẫn còn đó thì lãi suất vẫn còn nhiều “chông chênh”. Chừng nào nợ xấu chưa được xử lý triệt để, cơ hội để giảm lãi suất là không nhiều và mức độ giảm, nếu có, sẽ không thể lớn như mong đợi. Nhưng Nghị quyết về xử lý nợ xấu có giúp những vấn đề vướng mắc của nợ xấu, lãi suất trở nên “dễ thở” hơn hay không vẫn còn là điều phải chờ đợi, nhưng cũng đáng để chờ đợi!
III. VĂN HÓA XÃ HỘI

1. Từ ngày 1-1-2018, lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Rắc rối bảo hiểm xã hội cho lao động người nước ngoài (Báo Sài gòn giải phóng 24/6).

Đây là loại hình đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) hoàn toàn mới. Nhiều doanh nghiệp (DN) có sử dụng  lao động người nước ngoài (LĐNNN) đang e ngại phát sinh nhiều thủ tục phức tạp, trong khi tính thiết thực không cao.
Quy định đóng BHXH với LĐNNN đã cận kề đến ngày thực hiện nhưng đến nay vẫn chưa có nghị định, thông tư hướng dẫn, khiến các DN sốt ruột. Những vấn đề DN quan tâm là đối tượng LĐNNN nào “được” tham gia BHXH, đóng bao nhiêu chế độ và hưởng thế nào? 
Điều 124 Luật BHXH quy định, từ ngày 1-1-2018, LĐNNN được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ. Theo bà Võ Thị Hồng Ngân, chữ “được” ở đây không có nghĩa là “phải” hay “thuộc đối tượng” và trong việc thực hiện BHXH cho LĐNNN, nên để DN và LĐNNN chọn lựa tham gia hoặc không. Nếu có thực hiện, cũng chỉ nên áp dụng với LĐNNN có hợp đồng tuyển dụng tại Việt Nam cho phù hợp, tránh tình trạng “có chính sách mà người lao động không được hưởng sẽ phản cảm”.
Tại TP. Hồ Chí Minh, bình quân mỗi năm cấp giấy phép lao động cho trên 10.000 LĐNNN. Sở LĐTB-XH TPHCM cũng đánh giá, LĐNNN làm việc trong thời gian ngắn, do đó họ thường không quan tâm chế độ hưu trí khi đóng BHXH. Hơn nữa, mức lương giữa LĐNNN và lao động Việt Nam ở cùng chức danh công việc có sự chênh lệch khá cao. Nếu quy định LĐNNN tham gia BHXH bắt buộc (LĐNNN đóng 8%, DN đóng tối đa 18%), vấn đề phát sinh phức tạp là có sự điều chỉnh tiền lương, thu nhập của LĐNNN hay không - để hạn chế chi phí phải chi cho BHXH, hoặc khống chế tiền lương tháng đóng BHXH nhằm đảm bảo công bằng với người Việt Nam (đóng BHXH tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở)? 

2. Thời điểm năm 2012, thị trường bất động sản (BĐS) chứng kiến một hiện tượng khách hàng tập trung thành nhóm để khiếu kiện những sai trái của chủ đầu tư, hay đòi lại vốn góp tại dự án (DA). Bùng nổ tranh chấp chung cư: Hệ lụy của sự trục lợi (Báo Kinh tế và Đô thị 27/6).

Tình trạng này đang có dấu hiệu bùng phát trở lại trong 6 tháng đầu năm 2017. Nguyên nhân cốt lõi, theo các chuyên gia BĐS, là do sự trục lợi ngay từ đầu vào của các DN địa ốc dẫn đến khâu hậu mãi vênh so với hợp đồng mua bán.
Theo các chuyên BĐS, việc chủ đầu tư “trục lợi” khâu thi công đã khiến cho nhiều hạng mục không đảm bảo chất lượng như cam kết ban đầu. Đơn cử như DA La Astoria của Công ty CP Đầu tư xây dựng An Gia Hưng (TP Hồ Chí Minh) bị cư dân “tố” có biểu hiện gian lận, ăn cắp và thay thế vật tư được ghi trong hợp đồng mua bán bằng các vật tư có nguồn gốc không rõ ràng như dây cáp điện, sàn gỗ, gạch lát nền… Thậm chí, sàn bếp của 100% các căn hộ tại đây không được chủ đầu tư lát gạch. Chưa kể việc đường ống máy lạnh còn bị xì nước.
Liên quan đến tình trạng tranh chấp bùng phát diễn ra thời gian gần đây, đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho rằng, nếu phân tích sâu về ý thức, trách nhiệm cũng như năng lực của 3 chủ thể là cư dân, chủ đầu tư và phía các nhà làm chính sách, quản lý thì vấn đề quản lý, khai thác, vận hành nhà chung cư đã, đang và sẽ luôn tiềm tàng các mâu thuẫn, sẽ còn phát sinh trong thời gian tới. Để giải quyết được vấn đề này, quan trọng nhất là sự minh bạch, sự vào cuộc quyết tâm của tất cả các bên trên cơ sở một hành lang pháp lý rõ ràng. Tuy nhiên, theo phản biện của giới chuyên môn, thực tế quá trình phát triển hơn chục năm nay của hệ thống nhà chung cư thì các chủ thể tham gia vẫn còn quá nhiều vướng mắc và non trẻ.
Ở góc độ pháp lý, theo hầu hết các luật sư, để giải quyết dứt điểm các tranh chấp chung cư trong thời gian vừa qua là rất khó. Không phải không có những quy định cụ thể của pháp luật, mà bởi những tranh chấp này đều nằm rải rác trong các văn bản luật, nghị định, thông tư đi kèm. Bởi vậy, nhiều chủ đầu tư cố ý nhờn luật. Do đó, với diễn biến kiện tụng chung cư ngày càng căng thẳng và phức tạp như hiện nay thì cần thiết phải tập hợp tất cả những quy định đó vào một luật mới. Đơn cử như Luật Chung cư quy định việc góp vốn, mua bán căn hộ hình thành trong tương lai phải thông qua ngân hàng. Mỗi chủ đầu tư phải mở một tài khoản (duy nhất) tại một ngân hàng cho mỗi DA chung cư, để nhận các khoản góp vốn, thanh toán mua từ khách hàng. Tránh việc nhận tiền hai tay: Từ khách hàng lẫn ngân hàng. Chung cư trong quá trình thi công phải được kiểm định về vật tư, vật liệu. Khi đi vào vận hành, cần đảm bảo tiêu chí chất lượng, điều kiện hạ tầng, và đủ điều kiện cấp ngay giấy chủ quyền cho khách hàng. Thời hạn bảo hành công trình chung cư cần kéo dài đến 10 năm (đối với một số hạ tầng nhất định). Việc tiêu hủy, phá dỡ chung cư chỉ khi chất lượng công trình không đảm bảo hoặc theo quyết định của cộng đồng chung cư. Khuyến khích những tranh chấp liên quan đến chung cư được giải quyết thông qua trọng tài…
 
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH