< Trở về giao diện Mobile

Điểm báo tuần từ ngày 6 đến ngày 14 tháng 6 năm 2017

VẤN ĐỀ NỔI BẬT
1. Sáng 7/6, Quốc hội đã thảo luận ở hội trường về Dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) và Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD.  Không dùng ngân sách để xử lý nợ xấu ngân hàng (báo Công lý 8/6).
Theo Tờ trình của Chính phủ, thực tế xử lý nợ xấu khó khăn nhất ở khâu xử lý tài sản bảo đảm. Đây cũng là vướng mắc lớn nhất làm kéo dài thời gian xử lý nợ, giảm giá trị thu hồi nợ từ xử lý tài sản bảo đảm là việc bên bảo đảm không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý như đã cam kết trong hợp đồng bảo đảm. Bên cạnh đó, trên thực tế, việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi xử lý nợ xấu ở nước ta trong 17 năm qua đã giúp TCTD xử lý nợ xấu hiệu quả hơn việc xử lý nợ qua Tòa án, thi hành án dân sự.
Để đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản bảo đảm, bảo vệ quyền hợp pháp, chính đáng của chủ nợ, quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, tăng cường kỷ luật hợp đồng, nhưng không lạm quyền, dự thảo Nghị quyết quy định TCTD được thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện. Trong đó, để bảo đảm các TCTD, Công ty Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) không lạm quyền xử lý tài sản bảo đảm, một trong các điều kiện cần được đáp ứng khi thu giữ tài sản bảo đảm là phải có sự tham gia của cơ quan Nhà nước.
Chính phủ cho rằng, quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm đã được bên bảo đảm đồng ý trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, tự do ý chí. Do vậy, quy định này hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp 2013, Bộ luật dân sự 2015.
Theo đó, dự thảo Nghị quyết quy định về việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng; quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.
Đối tượng áp dụng là các TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; Tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Việc xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài phải bảo đảm công khai, minh bạch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của chủ nợ; phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống.
Cơ bản thống nhất với dự thảo Nghị quyết về giải quyết nợ xấu, các đại biểu kiến nghị cần quy định rõ ràng về trách nhiệm của cá nhân, tổ chức gây ra nợ xấu. Đồng thời, cần làm rõ động cơ nào, mục đích nào mà các Ngân hàng cho vay vượt quá giá trị tài sản thực tế. Đặc biệt, quá trình xử lý nợ xấu kiên quyết không dùng ngân sách để giải quyết nợ xấu, cũng như chế tài xử lý rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan liên quan.
Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Nguyễn Thanh Xuân (Cần Thơ) cho rằng, phải xử lý thật nghiêm trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây nợ xấu, có như vậy mới có tác dụng răn đe, tránh để lặp lại trong thời gian tới. Bên cạnh đó, để Nghị quyết đi vào cuộc sống, Chính phủ cần tổ chức triển khai quyết liệt ngay khi Nghị quyết có hiệu lực, có chế tài để kiểm soát tình hình, không để các Ngân hàng tùy tiện chuyển các khoản nợ khác sang nợ xấu, không để lạm quyền trong thu giữ tài sản của các Ngân hàng đối với khách hàng.
Lo lắng về những tác động của Nghị quyết khi thực thi, đại biểu Vũ Thị Lưu Mai đề nghị cần đánh giá tác động cụ thể của Nghị quyết khi đi vào cuộc sống để giữ được ổn định chính trị xã hội. Trong dự thảo Nghị quyết còn thiếu cơ chế bán đấu giá tài sản, thỏa thuận của các bên liên quan đến tài sản, việc thực hiện thanh kiểm tra giám sát cũng chưa được thể hiện rõ trong dự thảo. Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung những quy định này vào Nghị quyết.
Trái với lập luận của đại diện Chính phủ, đại biểu Phạm Hồng Phong (Hậu Giang) cho rằng, quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các TCTD, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức mua bán xử lý nợ xấu được quyền thu giữ tài sản bảo đảm là trái với Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự xã hội, đạo đức, sức khỏe cộng đồng, không đúng với Điều 301 của BLDS 2015 về giao tài sản bảo đảm để xử lý. Trong Bộ luật này, chỉ sử dụng từ “giao tài sản để xử lý” và không sử dụng cụm từ “thu giữ tài sản bảo đảm”. Bởi lẽ, hợp đồng tín dụng, trong đó có giao dịch bảo đảm, là quan hệ dân sự, được xác lập trên cơ sở bình đẳng, thỏa thuận giữa các bên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Trong khi đó, thu giữ tài sản bảo đảm là biện pháp hành chính, được giao cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, tổ chức mua bán xử lý nợ xấu, coi những tổ chức này như cơ quan công an, cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, Tòa án, cơ quan thi hành án… là không phù hợp.
Giải trình thêm một số nội dung, ông Lê Minh Hưng, Thống đốc ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam cũng thừa nhận, có tình trạng nợ xấu là do quy trình chưa đầy đủ của các TCTD, chưa chặt chẽ nên tạo khe hở để cán bộ ngân hàng, khách hàng lợi dụng. Một số TCTD năng lực kiểm tra còn hạn chế, chưa đồng bộ, tính tuân thủ các quy chế chưa cao. Các chuẩn mực đạo đức đối với đội ngũ cán bộc chưa được quan tâm cho nên dẫn đến rủi ro về cho vay; rủi ro về đạo đức cán bộ ngân hàng một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn câu kết với khách hàng, cố ý làm trái quy định; đe dọa đến hoạt động và tính lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Và các hành vi vi phạm pháp luật này trong thời gian qua đều đã và đang được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Đề án cơ cấu lại TCTD thời gian qua bước đầu đã thực hiện nhưng chưa giải quyết được cũng như xử lý nợ xấu một cách triệt để. Công tác thanh tra của NHNN tuy có nhiều cố gắng nhưng kết quả vẫn còn hạn chế…
Ông Hưng cũng khẳng định, sẽ tiếp thu ý kiến của đại biểu quốc hội là không dùng ngân sách để giải quyết nợ xấu và kiên quyết xử nghiêm những hành vi gây ra nợ xấu, gây tổn hại cho khách hàng, ngân hàng vào dự thảo Nghị quyết trước khi thông qua.
2. Nghị quyết về kinh tế tư nhân của Hội nghị Trung ương 5 đã chỉ rõ: Kinh tế tư nhân là một “động lực quan trọng” và yêu cầu cải cách từ tư duy đến thể chế. Tuy nhiên, dường như tư duy cải cách chưa kịp “thấm” tới cách thức xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Rất cần năng lực và tín nhiệm (báo Diễn đàn doanh nghiệp 10/6).
Thống kê cho tới thời điểm này cho thấy, trong tổng số doanh nghiệp (DN) Việt Nam, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 97%. Điều ấy cũng có nghĩa là, sự thay đổi tư duy, thể chế liên quan tới kinh tế tư nhân cũng chính là sự thay đổi tư duy, thể chế đối với DNNVV. Như một điều tất yếu, DNNVV có phát triển, lớn mạnh thì nền kinh tế mới thực sự bền vững, đóng góp vào sự ổn định, độc lập, tự chủ của đất nước. Bởi lẽ, chính DNNVV là nền tảng và là khởi đầu cho những tập đoàn tư nhân mạnh, có khả năng hội nhập, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nhất là trong xu thế cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Chưa khi nào nhận thức về cải tổ DNNN, nâng cao vị thế kinh tế tư nhân được đặt ra lại kéo theo những hệ quả việc thúc đẩy, hỗ trợ DNNVV như bối cảnh hiện nay. Những đột phá về tư duy sẽ là đòn bẩy khiến thể chế phải được thay đổi, cải cách.
Nhưng hỗ trợ hay thúc đẩy DNNVV phát triển thế nào lại đang là một cuộc tranh luận gay gắt giữa chính đối tượng được hỗ trợ, thúc đẩy với các bên liên quan. Trong nỗ lực đáng ghi nhận, Bộ kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), thay vì trình nghị định về hỗ trợ DNNVV như quy định tại luật Đầu tư, đã trình Quốc hội Dự luật Hỗ trợ DNNVV. Lý lẽ chủ yếu nhất của cơ quan soạn thảo này là: phải nâng những biện pháp, nội dung hỗ trợ DNNVV thành luật để tăng tính thực thi, bảo đảm cơ sở pháp lý quan trọng cho các biện pháp và nội dung hỗ trợ.
Tuy thế, đối tượng được hỗ trợ, tức các DNNVV, các hiệp hội DN và các bên liên quan khác lại có cái nhìn chưa cùng chiều với Ban soạn thảo khi cho rằng: những gì được dự thảo trong Luật Hỗ trợ DNNVV thực ra là những việc nhà nước phải làm và các dịch vụ hỗ trợ cần phải được thực hiện theo đúng định hướng xã hội hóa mà Quốc hội, Chính phủ đã vạch ra và thống nhất từ đầu nhiệm kỳ.
Trong khi đó, với xu hướng xã hội hóa dịch vụ công, việc hỗ trợ các DNNVV muốn đạt hiệu quả tối đa phải do chính xã hội đảm nhận. Bởi chỉ có xã hội mới có thể lắng nghe, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi chính đáng của cộng đồng DNNVV. Trong khi nhà nước với bộ máy quan liêu của mình sẽ khó có thể được lắng nghe và cảm nhận chính xác nhu cầu của xã hội nói chung và DNNVV nói riêng.
Nhà nước, theo đúng chức năng của mình, sẽ chỉ chuyên tâm vào nhiệm vụ chủ yếu là thiết kế khung khổ pháp luật, nói cách khác là đặt ra luật chơi công bằng, cạnh tranh để những “người chơi” là các DNNVV tuân thủ. Khi đó, sự cạnh tranh sẽ trở thành động lực chính khiến DNNVV phát huy tối đa những lợi thế của mình trong mối tương quan chủ yếu với thị trường. Bởi lẽ, có một điều không thể phủ nhận, khi nhà nước “ôm đồm” cả những nhiệm vụ mà xã hội làm tốt, thì chẳng những biên chế bị phình ra, mà ngay cả hiệu quả, mục đích của việc hỗ trợ DNNVV cũng sẽ không đạt khi tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” không bị tận diệt.
3. Một động lực mới cho nền kinh tế, cho sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam có thể sẽ được thiết lập vào ngày 12/6, khi Luật Hỗ trợ DNNVV được Quốc hội thông qua. Luật Hỗ trợ DNNVV: Động lực mới cho nền kinh tế (báo Đầu tư 12/6).
Với hàng loạt điều khoản, doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ, nói đúng hơn là sẽ được phục vụ, để đồng hành phát triển cùng đất nước. Không còn chỗ cho nhũng nhiễu, không còn chỗ cho xin - cho. Một Chính phủ kiến tạo, hành động và liêm chính - thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa - sẽ tạo những điều kiện thuận lợi nhất để cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, sản xuất - kinh doanh có hiệu quả, qua đó thúc đẩy kinh tế - xã hội Việt Nam phát triển.
Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn về mặt bằng, tiếp cận tín dụng, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường… Do đó, họ mong muốn có một bộ luật có thể giải quyết tất cả những khó khăn của doanh nghiệp. Khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được ban hành, những kỳ vọng đó sẽ được hiện thực hóa. Bởi thế, hôm nay, tất cả đang chờ đợi những bàn tay bấm nút thông qua của các đại biểu Quốc hội. Để cộng đồng doanh nghiệp có một món quà quý. Để nền kinh tế có thêm một động lực mới để vượt qua giai đoạn khó khăn này, tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn sau.
4. Để thực hiện Nghị quyết của Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV cũng như thực hiện lời hứa với Quốc hội và cử tri cả nước, ngay sau Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã ban hành Quyết định số 4901/QĐ-BCT ngày 15 tháng 12 năm 2016, về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Công Thương triển khai thực hiện Nghị quyết số 33/2016/QH14 về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV. Bộ Công Thương - Chuyển động tích cực từ đòi hỏi thực tiễn và của cử tri cả nước (báo Công thương 12/6).
Kế hoạch hành động triển khai thực hiện với 111 nhiệm vụ, tập trung vào 8 nhóm vấn đề lớn. Đến nay, sau gần 6 tháng tập trung triển khai, một số công việc đã được hoàn thành, một số công việc khác còn cần được tiếp tục triển khai thực hiện trong thời gian tới. Tuy nhiên, có thể đánh giá rằng, những kết quả đạt được ở nhiều lĩnh vực cho thấy sự chuyển biến tích cực và đem lại hiệu quả rõ rệt.
Tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017 ngành Công Thương, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “Năm 2016, Bộ Công Thương là cơ quan làm tốt nhất việc đổi mới, cải cách thể chế - một khâu quan trọng trong thực hiện mục tiêu Chính phủ kiến tạo và phục vụ, là Bộ đi đầu trong cải cách thủ tục hành chính”.
Kết quả từ những nỗ lực đó có sự quan tâm sâu sắc, chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc - đầu tàu của một Chính phủ kiến tạo và phục vụ, là sự tham góp, giám sát chặt chẽ của đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước; bên cạnh đó là một vị “Tư lệnh” ngành với tư duy đổi mới và quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành.
II. KINH TẾ PHÁT TRIỂN
1. Sáng 7-6, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển, Quốc hội thảo luận ở hội trường về: Dự thảo Nghị quyết về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng. Nợ xấu phải được xử lý từ gốc (báo Quân đội nhân dân 8/6).
Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý xử lý nợ xấu theo hình thức ban hành Nghị quyết của Quốc hội là rất cần thiết, nhằm thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng, thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, cũng như đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn.
Quá trình xử lý nợ xấu còn nhiều khó khăn, vướng mắc chưa được tháo gỡ, cụ thể: Một số giải pháp trong Quyết định số 843 thuộc trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương để hỗ trợ xử lý nợ xấu đã bước đầu được triển khai. Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm, chủ động thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, đặc biệt là các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về hoàn thiện hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm.
Quá trình xét xử, thi hành án với nhiều thủ tục phức tạp, kéo dài làm cho việc xử lý nợ xấu thông qua tòa án, thi hành án rất chậm, không hiệu quả. Việc xử lý nợ xấu thông qua xử lý tài sản bảo đảm, bán khoản nợ theo cơ chế thị trường, thu nợ khách hàng vay còn nhiều hạn chế, dẫn đến khó xử lý nợ xấu một cách triệt để. Nhiều khoản nợ xấu tại các tổ chức tín dụng (TCTD) bị kiểm soát đặc biệt có liên quan đến các vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố nên thời gian giải quyết bị kéo dài. Cơ chế, chính sách về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm còn bất cập, gây nhiều khó khăn trong việc xử lý nợ xấu của TCTD, VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam); thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia xử lý tài sản bảo đảm và mua bán nợ xấu; thị trường mua bán nợ chậm phát triển làm cho việc xử lý nợ xấu kéo dài hơn, gia tăng chi phí do nợ xấu gây ra cho TCTD, khách hàng vay và nền kinh tế.
Sau gần 4 năm đi vào hoạt động, VAMC còn thiếu nguồn lực, cơ chế, chính sách, quy định pháp lý phù hợp để xử lý nhanh nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua. Nợ xấu, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu có nguy cơ tăng trở lại. Tính đến ngày 31-12-2016, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý chiếm 5,8% trên tổng dư nợ cho vay, đầu tư đối với nền kinh tế; nếu tính cả nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu thì tỷ lệ này sẽ là 10,08% trên tổng dư nợ cho vay, đầu tư đối với nền kinh tế.
Theo đại biểu Trương Anh Tuấn (Nam Định), nợ xấu là một tham số quan trọng phản ánh “sức khỏe” của một nền kinh tế. Đến nay kết quả giải quyết nợ xấu của các tổ chức tín dụng chưa đạt được như mong muốn. Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến ngày 31-12-2016, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa giải quyết được, chưa xử lý được chiếm 51,8% nợ cho vay. Nếu tính cả nợ xấu mà chưa bán cho VAMC còn giữ lại TCTD thì nợ xấu lên đến 10,08% tổng dư nợ cho vay. Như vậy, nợ xấu đã và đang là vấn đề cần được quan tâm, giải quyết để đảm bảo sự ổn định, phát triển.
Theo đại biểu Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh), vấn đề nợ xấu hiện nay không chỉ của ngành ngân hàng, mà là vấn đề của cả nền kinh tế. Để giải quyết, cần có sự tham gia của khách hàng và cả hệ thống chính trị. Nghị quyết phải có những quy định cụ thể, cơ sở pháp lý để xử lý tài sản đảm bảo. Xử lý nợ xấu, khơi thông nguồn vốn sẽ làm lành mạnh sự phát triển kinh tế xã hội.
Đại biểu Nguyễn Sơn kiến nghị, nên tập trung xử lý nợ nhóm 4 và nhóm 5 để tránh việc các TCTD lợi dụng. Đồng thời với xử lý nợ xấu, Chính phủ cần xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức gây ra nợ xấu sao cho công khai minh bạch. Việc mua bán nợ xấu cũng phải công khai minh bạch theo đúng tinh thần của Nghị quyết.
Theo đại biểu Vũ Thị Lưu Mai (Hà Nội), Nghị quyết có thời hạn 5 năm, tuy nhiên nợ xấu thì luôn đồng hành với quá trình của sự phát triển kinh tế và luôn phát sinh. Như vậy, cần có công cụ pháp lý ổn định để ngăn chặn và xử lý nợ xấu trong tương lai. Đi đôi với xử lý nợ xấu cũng cần có biện pháp xử lý nợ xấu phát sinh.
Về xử lý tài sản bảo đảm, Nghị quyết nêu rõ, thực tế xử lý tài sản bảo đảm thời gian qua cho thấy, vướng mắc lớn nhất làm kéo dài thời gian xử lý nợ, giảm giá trị thu hồi nợ từ xử lý tài sản bảo đảm là việc bên bảo đảm không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý như đã cam kết trong hợp đồng bảo đảm.
2. “Mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% trong năm nay tuy khó, nhưng vẫn có thể đạt được”, PGS-TS Trần Hoàng Ngân, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận định trước khi Quốc hội thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội vào ngày 9/6. Những cơ sở để có thể đạt mục tiêu tăng trưởng GDP (báo Đầu tư 9/6).
Ngày 29/6 mới có số liệu tăng trưởng GDP quý II và 6 tháng đầu năm, nhưng trong quý I, GDP chỉ tăng 5,1%, nên nhiều ý kiến cho rằng, chưa chắc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cả năm 6,7%. Quan điểm của ông thế nào?
Tốc độ tăng trưởng GDP quý I năm nay đạt thấp vì công nghiệp khai khoáng sụt giảm mạnh, chỉ bằng 90% cùng kỳ 2016; công nghiệp chế biến - chế tạo chỉ tăng 8,30%, giảm đáng kể so với mức tăng 9,7% của cùng kỳ năm 2015 và 8,94% của năm 2016. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,1%, thấp hơn nhiều so với mức tăng của cùng kỳ một số năm gần đây (năm 2014 tăng 5,3%; năm 2015 tăng 9,3% và năm 2016 tăng 7,4%) có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc Công ty Samsung giảm sản lượng smartphone.
Chính phủ đã tìm được nguyên nhân khiến GDP quý I năm nay tăng trưởng thấp và đã có các giải pháp, biện pháp khắc phục tương đối hiệu quả trong thời gian vừa qua, nên tôi tin rằng, mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% có thể đạt được.
Năm 2016, số lượng doanh nghiệp thành lập mới đạt kỷ lục, với trên 110.000 doanh nghiệp. Năm nay, với tốc độ tăng trưởng như những tháng đầu năm, tôi chắc rằng, con số này sẽ là 120.000 doanh nghiệp. Đây là cơ sở vững chắc để kinh tế năm nay sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng 6,7%.
Quan trọng nhất không phải là tốc độ tăng trưởng bao nhiêu, mà là có bền vững không, bởi một khi hoạt động sản xuất, kinh doanh khó khăn thì doanh nghiệp sẽ giải thể, đóng cửa, ngừng hoạt động. Việc này không chỉ tác động tới tăng trưởng kinh tế, mà còn ảnh hưởng tới nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác.
Để củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào một Chính phủ hành động, liêm chính, ngày 17/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã trực tiếp đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước, đặc biệt là ngay hôm đó, người đứng đầu Chính phủ đã ký Chỉ thị 20/CT-TTg nghiêm cấm các bộ, ngành, địa phương thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp quá 1 lần/năm.
Để phát triển kinh tế bền vững, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa XII đã khẳng định tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi để phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến; hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3. Thủ tướng vừa tiếp tục giao Ngân hàng Nhà nước xem xét, nghiên cứu việc huy động phù hợp nguồn vốn vàng, ngoại tệ trong dân vào phục vụ phát triển kinh tế. Cách nhanh nhất để hút ngoại tệ vào nền kinh tế (báo Đầu tư 14/6).
Vấn đề huy động vàng, ngoại tệ trong dân lại một lần nữa được Thủ tướng Chính phủ đề ra trong phiên họp Chính phủ tháng 5/2017. Đây là lần thứ hai từ đầu năm đến nay, Thủ tướng đưa ra yêu cầu này.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, chính sách lãi suất 0% với tiền gửi USD có tác dụng rất lớn tại thời điểm đó. Song hiện tại, chính sách này đã bộc lộ những mặt trái. Đáng lo nhất là đã xuất hiện tình trạng “chảy máu” ngoại tệ và tình trạng kiều hối suy giảm.
Trong khi đó, hàng trăm tấn vàng trong dân vẫn chưa có cơ chế khai thông. Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, trong bối cảnh nguồn lực phát triển kinh tế trong nước còn hạn chế, chủ trương huy động nguồn lực trong dân vào sản xuất - kinh doanh là rất đúng đắn. Tuy vậy, cách huy động nguồn lực này thế nào vẫn là bài toán khó.
Theo đại biểu Quốc hội Lê Công Đỉnh (Long An), nên huy động nguồn lực trong dân, đặc biệt là kiều hối, vào sản xuất - kinh doanh, thay vì đem tiền, vàng gửi vào ngân hàng. Để làm được điều này, phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát, tạo niềm tin mạnh mẽ cho người dân. Việc cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, cải cách hành chính tạo điều kiện tốt nhất cho người dân khởi nghiệp…
TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, để thu hút nguồn ngoại tệ vào sản xuất - kinh doanh, Chính phủ cần lập kế hoạch, chương trình, dự án… khả thi cung cấp cho các ngân hàng thương mại cổ phần để họ tư vấn cho khách hàng. Tương tự, NHNN và Ủy ban người Việt ở nước ngoài cũng cần phối hợp để quảng bá các chương trình, dự án này đến với kiều bào ở nước ngoài để họ biết cách dùng nguồn lực này có lợi.
Ngoài ra, Chính phủ có thể phát hành trái phiếu chính phủ bằng USD để huy động vốn ở nước ngoài. Tuy vậy, theo TS. Lê Xuân Nghĩa, cách đơn giản nhất để huy động nguồn lực ngoại tệ vào phát triển kinh tế hiện nay là cho phép huy động (có lãi suất) và cho vay USD trở lại.
Mặt khác, khi nguồn cung ngoại tệ dồi dào, ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay ngoại tệ để giải ngân, toàn bộ mặt bằng lãi suất trên thị trường sẽ được kéo xuống. Hiện nay, lãi suất tiền đồng vẫn khá cao, vì không có “cánh kéo” từ ngoại tệ. Nếu có thêm kênh USD, lãi suất thị trường sẽ được trung hòa.
Liên quan đến mối lo đô la hóa quay lại nếu NHNN cho phép huy động USD có áp dụng lãi suất, ông Lê Xuân Nghĩa cho rằng, nếu tỷ lệ đô la hóa ở khoảng 10% thì không coi là nền kinh tế bị đô la hóa.
Vấn đề là NHNN cần tính toán, xác định tỷ trọng USD trong nền kinh tế ở mức nào là bình thường và có chính sách lãi suất phù hợp nhằm huy động ngoại tệ vào ngân hàng, đồng thời không gây hiện tượng găm giữ, đầu cơ.
III. VĂN HÓA XÃ HỘI
1. Ngày 13-6, kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV bắt đầu phiên chất vấn và trả lời chất vấn đối với hai bộ trưởng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Là người "đăng đàn" đầu tiên trả lời chất vấn trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường đã giải đáp hàng loạt vấn đề "nóng", trong đó có việc ngăn chặn "khủng hoảng thừa", giải quyết tình trạng “được mùa, mất giá”, tháo gỡ những "điểm nghẽn", tái cơ cấu ngành Nông nghiệp phát triển. Ngày làm việc thứ 17, kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV: Gỡ “điểm nghẽn”, phát triển nông nghiệp (báo Hà Nội mới 14/6).
Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (Đoàn TP Hồ Chí Minh) nhận định, tình trạng sản xuất chưa gắn với tiêu thụ sản phẩm đã diễn ra quá lâu. Đây là việc phải nghiên cứu giải quyết cả tầm vĩ mô và vi mô nhưng “ứng xử” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) rất lúng túng, cái gì dễ thì làm, cái gì khó thì chưa tập trung. Trong khi đó, các đại biểu: Nguyễn Thị Ngọc Lan (Đoàn Bắc Ninh), Nguyễn Thanh Hồng (Đoàn Bình Dương) bày tỏ băn khoăn trước nhiều tài nguyên, nguồn lực của ngành Nông nghiệp còn đang bị lãng phí. Việt Nam vẫn chưa xây dựng được thương hiệu mạnh cho hàng hóa nông sản.
Vấn đề quy hoạch được đại biểu Nguyễn Sơn (Đoàn Hà Tĩnh) nêu lên khi chất vấn về căn cứ ngành Nông nghiệp đưa ra quy hoạch ngành chăn nuôi với 32 triệu con lợn vào năm 2015. Đáng lo ngại là đến năm 2016, thị trường mới có 27 triệu con lợn đã xảy ra "khủng hoảng thừa". Phản ánh bài ca "được mùa, mất giá; được giá, mất mùa" lặp lại qua nhiều nhiệm kỳ, đại biểu Nguyễn Sỹ Cương (Đoàn Ninh Thuận) cho rằng, thực trạng đáng suy ngẫm là hết thanh long, dưa hấu, tỏi, hành tím, hạt tiêu và giờ đến thịt lợn, trứng gà, bí đỏ, chuối... làm cho danh sách nông sản ế thừa kéo dài mãi.
Do đó, đại biểu đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, tăng thêm thời gian của phiên chất vấn tại kỳ họp này nhằm tìm ra giải pháp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Việc làm này không phải để phê phán, quy kết trách nhiệm cho bộ, ngành nào mà điều quan trọng là tìm ra giải pháp đúng để sau này không phải nói lại.
Trả lời thẳng nhóm câu hỏi của nhiều đại biểu về vấn đề sản xuất và lưu thông trong lĩnh vực nông nghiệp chưa bắt kịp tín hiệu thị trường, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường khẳng định: Trưởng ngành phải có trách nhiệm đầu tiên, nhưng một trưởng ngành không bao giờ giải quyết hết việc được. “Người nông dân trông chờ không chỉ Bộ trưởng, mà cả hệ thống của chúng ta phải làm tốt hơn nữa từ khâu sản xuất đến lưu thông, đó là yêu cầu chính đáng” - Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nói và hứa với quyết tâm cao, sẽ chỉ đạo các đầu mối liên kết phải làm hết sức mình để hạn chế điệp khúc “được mùa, mất giá; được giá, mất mùa”
Lý giải cụ thể lý do khủng hoảng thừa đàn lợn, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, nguyên nhân chính là do khối lượng sản xuất khổng lồ trong khi đầu ra vẫn chưa được tổ chức tốt. Việc liên kết giữa khâu sản xuất và chế biến chỉ đạt khoảng 20%. Trong khi 90% sản phẩm vẫn là tiêu thụ theo phương thức truyền thống, không phù hợp với chuyển đổi cơ cấu tiêu dùng của xã hội. Ngoài ra, Bộ trưởng cho rằng, do cơ cấu thực phẩm hiện nay đã thay đổi, nhân dân có nhiều sự lựa chọn hơn về thực phẩm cho bữa ăn hằng ngày nên mức tiêu thụ thịt lợn đã giảm đáng kể, cung vượt cầu.
Làm rõ hơn sự phối hợp giữa Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT trong định hướng thị trường cho hàng hóa nông sản, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, khâu quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp là phải căn cứ theo tín hiệu của thị trường. Việt Nam có dư địa rất lớn để xuất khẩu, trong đó có mặt hàng thịt lợn nhưng về hàng rào kỹ thuật, hàng hóa nông sản chưa bảo đảm yêu cầu của các nước nhập khẩu.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhận xét, phiên chất vấn đã diễn ra sôi nổi, thẳng thắn, tranh luận mang tính xây dựng, đạt yêu cầu đề ra. Cho rằng, mặc dù thời gian nhận nhiệm vụ mới 11 tháng, nhưng Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đã nắm rõ thực trạng những vấn đề bức xúc thuộc lĩnh vực quản lý và trả lời rất thẳng thắn.
Chủ tịch Quốc hội đánh giá, thời gian qua lĩnh vực nông nghiệp đã ghi nhận nhiều chuyển biến, cơ cấu ngành chuyển dịch tích cực, một số mặt hàng đạt giá trị cao trên thị trường trong nước và thế giới. Tuy nhiên, ngành Nông nghiệp nước ta vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ, Bộ trưởng tiếp tục nghiên cứu tháo gỡ những “điểm nghẽn” để thúc đẩy ngành phát triển. Trước hết là rà soát, hoàn thiện và phát triển việc tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, trong năm 2017 trình Thủ tướng ban hành kế hoạch, lộ trình cụ thể để tái cơ cấu ngành giai đoạn 2017 - 2020. Tiếp đó là tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ; đổi mới hình thức tổ chức sản xuất; hướng dẫn UBND các tỉnh, thành thực hiện bộ tiêu chí đánh giá cơ cấu lại ngành Nông nghiệp đến năm 2020.
2. Những năm qua, tại Bắc Trung Bộ, một số hợp tác xã (HTX) kiểu mới đã giúp cho kinh tế hộ gia đình liên kết sản xuất để nâng cao năng suất lao động, tìm được đầu ra ổn định cho nông sản. Tuy nhiên, các mô hình HTX kiểu mới phát triển còn chậm, quy mô vốn còn rất nhỏ nên kết quả đạt được còn hạn chế. Đặc biệt, nhiều chính sách tốt dành cho HTX kiểu mới chưa được áp dụng trong thực tế, đòi hỏi cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Phát triển hợp tác xã kiểu mới tại Bắc Trung Bộ: Tránh tình trạng “bình mới rượu cũ” (báo Quân đội nhân dân 8/6).
Hiện nay, tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ có 3.699 HTX được chuyển đổi từ các hình thức HTX. Tại Nghệ An, mô hình HTX kiểu mới hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ, quỹ tín dụng đã góp phần giải quyết việc làm ở nông thôn.
Điển hình như HTX Dịch vụ nông nghiệp Nghi Lâm (huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Được thành lập vào năm 1999, qua nhiều năm hoạt động, đến năm 2012, HTX Dịch vụ nông nghiệp Nghi Lâm đã chuyển đổi theo mô hình HTX kiểu mới. Những năm gần đây, HTX Dịch vụ nông nghiệp Nghi Lâm đã đảm nhiệm tốt vai trò "bà đỡ" cho bà con, được người dân tin tưởng coi HTX là chỗ dựa trong sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, HTX dịch vụ nông nghiệp Nghi Lâm có 760 thành viên, hoạt động trên các lĩnh vực chính như: Dịch vụ thủy lợi, phân bón, bảo vệ thực vật, giống cây trồng, sản xuất lúa giống, tín dụng nội bộ. Để bảo đảm lợi ích cho các thành viên HTX và tồn tại được trong cơ chế thị trường, Ban quản lý HTX đã năng động tổ chức các khâu dịch vụ; liên kết với các đơn vị, công ty, doanh nghiệp để cung ứng nguồn nguyên vật liệu cũng như bao tiêu sản phẩm đầu ra.
Năm 2016, Hà Tĩnh có hơn 1.200 HTX với hơn 87.000 thành viên. Nhiều HTX đã liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị với doanh nghiệp trong các hoạt động ngành nghề như: Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh, Công ty Cổ phần chăn nuôi Thái Dương, Công ty Giống cây trồng Hà Tĩnh. Các HTX đã kết nối để tiêu thụ sản phẩm tại các siêu thị. Nhiều sản phẩm của các HTX được công nhận là sản phẩm “nông nghiệp nông thôn tiêu biểu”, bảo đảm an toàn thực phẩm và có nhãn mác, thương hiệu trên thị trường.
Tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, hiệu quả hoạt động của mô hình HTX nông nghiệp kiểu mới đang từng bước được khẳng định. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, nhiều HTX có tốc độ tăng trưởng chậm và chưa ổn định, quy mô manh mún, nhỏ lẻ, hoạt động còn mang tính hình thức, hiệu quả kinh tế chưa cao. Ông Nguyễn Xuân Vinh, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp Nghi Lâm cho biết: “Nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả HTX kiểu mới là ý thức của một số người dân còn bảo thủ, tâm lý còn e ngại, định kiến, chưa hiểu rõ được bản chất của HTX kiểu mới, vẫn còn có tư tưởng “mạnh ai nấy làm”. Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách ưu đãi để phát triển HTX nhiều nhưng thực ra chưa đến tận tay người dân. Thủ tục vay vốn ưu đãi ngân hàng còn phức tạp, các chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tập huấn kỹ năng, tham quan học tập kinh nghiệm các HTX điển hình còn thiếu và chưa đồng bộ”. Từ thực tế đó, ông Nguyễn Xuân Vinh kiến nghị các cấp, ngành phải làm cho người dân hiểu rõ bản chất của HTX kiểu mới và tính ưu việt của nó. Mặt khác, các HTX rất cần đến nguồn nhân lực trẻ, có trình độ chuyên môn để phát triển, nhưng do chưa tin tưởng vào mô hình kinh tế tập thể kiểu mới nên dù được đóng bảo hiểm, chế độ lao động bảo đảm nhưng lực lượng lao động trẻ vẫn không mấy mặn mà với chuyện tham gia vào HTX kiểu mới. Bên cạnh đó, các HTX vẫn phải “tự thân vận động” các chính sách hỗ trợ về đào tạo nhân lực, dịch vụ liên kết bao tiêu sản phẩm, dự án.
Trăn trở với các khó khăn trong hoạt động HTX, ông Nguyễn Ngọc Hùng, Chủ tịch Liên minh HTX Hà Tĩnh cho biết: “Thời gian tới, chúng tôi tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh tháo gỡ các vướng mắc trong chính sách, tạo điều kiện cho các HTX tiếp cận nguồn vốn vay. Thực tế, nguồn vốn vay ưu đãi cho các HTX tại Hà Tĩnh năm qua chỉ được 20 tỷ đồng, trong khi nhu cầu của các HTX lại lớn gấp nhiều lần. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ hỗ trợ các HTX trong hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm”.
Phát triển mô hình kinh tế HTX là một xu thế tất yếu và cần thiết. Để HTX kiểu mới phát triển bền vững, đúng thực chất, tránh tình trạng “bình mới rượu cũ”, vượt qua được sự cạnh tranh gay gắt trong nền kinh tế thị trường không những cần có sự phối hợp đồng bộ từ các cấp, ngành mà bản thân HTX cần năng động, phát huy nội lực, tránh trông chờ, ỷ lại. Các chính sách hỗ trợ cần được thực hiện kịp thời. Điều quan trọng là phải làm thay đổi nhận thức để nông dân tin tưởng và thấy được lợi ích của mô hình HTX kiểu mới.
MTC


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH