< Trở về giao diện Mobile
Trang chủ / Tài liệu nghiệp vụ

Hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho các nhà báo ở Việt Nam.

Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đào tạo, bồi dưỡng báo chí truyền thông ở Việt Nam hiện nay”.
Bối cảnh:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, báo chí Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ. Báo chí Việt Nam hiện có đầy đủ tất cả các loại hình như báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử. Do tác động mạnh mẽ cuả công nghệ , báo chí Việt Nam chuyển mình theo hướng đa phương tiện hóa. Hầu hết những tờ báo in đã xuất hiện phiên bản điện tử, chẳng hạn: Bên cạnh báo in Nhân dân đã có báo điện tử Nhân dân, bên cạnh báo in Lao động đã có báo điện tử Lao động...
Trong những năm qua, Bộ Thông tin và Truyền thông hết sức coi trọng công tác đào tạo và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí, đặc biệt là lĩnh vực hợp tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Việc triển khai nhiệm vụ bồi dưỡng cho các nhà báo bằng các nguồn tài trợ của nước ngoài đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao năng lực của đội ngũ nhà báo Việt Nam.
  Sự phát triển của báo chí trong xu thế hội tụ đòi hỏi mỗi tờ báo phải tự đổi mới, tạo bản sắc riêng, thích ứng với nhu cầu nội dung thông tin của độc giả. Để làm được điều đó đòi hỏi cơ quan báo chí phải có đội ngũ nhà báo được đào tạo bài bản, có kiến thức nghiệp vụ báo chí, kiến thức chuyên ngành cũng như những kỹ năng làm báo trong xu thế hội tụ.
Trong khi, thực tế đào tạo báo chí ở Việt Nam còn có những hạn chế nhất định. Một bộ phận lớn các nhà báo không được đào tạo từ những trường báo chí mà được đào tạo ở các chuyên ngành khác; còn các trường báo chí ở Việt Nam hiện nay vẫn đào tạo theo phương pháp nặng về lý thuyết hơn là việc chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành. Việc thiếu kỹ năng viết báo nói chung và thiếu kinh nghiệm viết về các chủ đề cấp thiết trong xã hội của phóng viên dẫn đến thông tin thiếu chính xác và đôi khi sai sự thật, hệ quả ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thông tin của báo chí Việt Nam.
Để tiếp cận nhanh chóng với xu hướng phát triển của báo chí quốc tế, hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo là biện pháp hữu hiệu giúp cho đội ngũ nhà báo Việt Nam hướng tới chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu tác nghiệp trong thời đại công nghệ.
II.  Hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí.
Qua quá trình nghiên cứu và khảo sát thực tế thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài từ các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao báo chí trong cả nước, kết quả của công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí chủ yếu được thực hiện thông qua các mô hình sau:
2.1. Thông qua các Hiệp định cụ thể về hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ báo chí
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo báo chí thông qua các Hiệp định cụ thể là hình thức cao nhất trong các mô hình hợp tác. Đây là mô hình được thực hiện hết sức hiệu quả, mang tính lâu dài, bền vững và độ lan tỏa rộng. Nguồn kinh phí có được từ mô hình này chủ yếu thông qua hình thức cấp vốn ODA của các chính phủ.
Theo quy định của Luật Báo chí, Bộ Văn hoá - Thông tin trước đây, nay là Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho các nhà quản lý báo chí và đội ngũ phóng viên, biên tập viên. Trong những năm qua, ngoài nguồn ngân sách của Nhà nước, Bộ Thông tin và Truyền thông nhận được sự hỗ trợ về ngân sách thông qua việc ký kết các Hiệp định giữa hai Chính phủ Việt Nam và Thuỵ Điển, bằng đường viện trợ ODA để tổ chức các khoá đào tạo cho đội ngũ lãnh đạo, biên tập viên, phóng viên của các cơ quan báo chí.
Quá trình thực hiện Hiệp định về hỗ trợ thông tin thông qua dự án Đào tạo nâng cao báo chí Việt Nam giai đoạn I, II, và III do tổ chức Sida Thụy Điển tài trợ đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động báo chí về cả phương diện kỹ năng nghiệp vụ và quản lý điều hành cơ quan báo chí trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cả hai phía Việt Nam và Thụy Điển đều có những đánh giá hết sức khách quan về hiệu quả hỗ trợ của Thụy Điển đối với nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà báo Việt Nam.
Dự án “Đào tạo nâng cao báo chí Việt Nam” là dự án với quy mô lớn nhất từ trước tới nay ở Việt Nam để đào tạo nâng cao báo chí. Sau hơn 10 năm thực hiện dự án “Đào tạo nâng cao báo chí Việt Nam” (1998 - 2009), Bộ Thông tin và Truyền thông đã triển khai thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao cho gần 10.000 nhà báo Việt Nam. Các hoạt động được triển khai ở tất cả các loại hình báo chí và bao trùm mọi đối tượng (lãnh đạo cơ quan báo chí, lãnh đạo các phòng ban nghiệp vụ, phóng viên, biên tập viên) và toàn bộ các lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ (các khoá đào tạo ngắn hạn cho báo viết và cho truyền hình địa phương; khoá đào tạo tại chỗ cho báo viết và Đài truyền hình, Đài tiếng nói Việt Nam; khoá đào tạo giảng viên; khoá quản lý báo chí; khoá đào tạo cho đài phát thanh cấp huyện; chương trình truyền hình trực tiếp về các vấn đề xã hội quan tâm; các hội thảo tư vấn cho lãnh đạo cơ quan báo chí và cơ quan chủ quản; mua sắm thiết bị cho Đài Tiếng nói Việt Nam; xuất bản cẩm nang phát thanh trực tiếp cho các đài cấp huyện; tổ chức các triển lãm ảnh, bài tập mẫu của các lớp học; xuất bản sách ảnh, tổ chức cuộc thi Thiết kế báo...
Trong hơn 10 năm qua, các cơ quan báo chí và các nhà báo Việt Nam tham gia vào các giai đoạn của dự án “Đào tạo nâng cao báo chí Việt Nam” đã và đang phát huy tốt hiệu quả của chương trình đào tạo; tính trung thực, cởi mở, công khai trên báo chí ngày càng được coi trọng, vai trò của báo chí với chức năng là cầu nối để tăng cường đối thoại giữa chính quyền và nhân dân đang ngày càng gắn chặt với các chương trình lớn của quốc gia như xóa đói giảm nghèo, chống tham nhũng, tôn trọng các quyền con người và đặc biệt là xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Dự án: “Hỗ trợ Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí ở Việt Nam, giai đoạn 2010 - 2013”:
Để tiếp nối những kết quả đã đạt được trong việc hỗ trợ đào tạo nâng cao báo chí Việt Nam từ dự án của các năm trước, ngày 7/9/2010, Bộ Thông tin và Truyền thông và Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam tiếp tục ký Hiệp định cụ thể về “Hỗ trợ Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí ở Việt Nam, giai đoạn 2010 - 2013”. Đây là Hiệp định duy nhất giữa hai nhà nước về việc xây dựng một Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông nhằm tiếp tục hỗ trợ đào tạo đội ngũ nhà báo Việt Nam, đồng thời đây là Hiệp định cụ thể trong khuôn khổ Hiệp định khung giữa hai Chính phủ Việt Nam và Thụy Điển về hợp tác phát triển giai đoạn 2009 - 2011.
Việc Việt Nam lựa chọn Thụy Điển là đối tác quan trọng cho việc hợp tác đào tạo báo chí qua nhiều giai đoạn có những lý do cụ thể. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí có những đặc thù riêng, đòi hỏi không chỉ kinh nghiệm, mà còn là sự nhạy bén trong việc lựa chọn các đối tác, các vấn đề hợp tác phù hợp với sự phát triển của báo chí nước nhà. Kinh nghiệm cho thấy, khi lựa chọn sự hỗ trợ của Thụy Điển trong việc nâng cao năng lực tác nghiệp của nhà báo Việt Nam, chúng ta đã nghiên cứu và hiểu rõ rằng báo chí Bắc Âu mà điển hình là Thụy Điển là một trường phái báo chí “hoạt động theo phương châm ôn hòa và uyển chuyển, giàu tính nhân văn”. Báo chí Thụy Điển hoạt động khách quan, theo cơ chế tự điều chỉnh. Thụy Điển là đại diện cho một trường phái báo chí chưa được phổ biến rộng rãi nhưng lại tỏ ra phù hợp với tình hình đang biến đổi nhanh chóng trên thế giới. Nền báo chí theo trường phái này đã kết hợp được mối quan tâm tới cả hai phương diện: hiệu quả kinh tế và hiệu quả thông tin mang tính tư tưởng, văn hóa, thẩm mỹ. Đó chính là những gì mà báo chí Việt Nam đang hướng tới trong quá trình đổi mới và mở cửa và đó cũng chính là nguyên nhân những kinh nghiệm làm báo của Thụy Điển cũng rất dễ tiếp thu ở Việt Nam.
Với mục đích đưa ra những nhìn nhận và đánh giá khách quan nhất về hiệu quả của dự án có quy mô lớn nhất này, chúng ta cần nghiên cứu chi tiết hơn về bản chất của dự án đào tạo báo chí mà Chính phủ Thụy Điển dành cho Chính phủ Việt Nam qua giai đoạn sau cùng của sự hợp tác này. Có thể nói, dự án “ Hỗ trợ Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí” là dự án tổng kết mọi thành quả từ hơn 15 năm chính phủ Thụy Điển đã hỗ trợ Việt Nam trong công tác đào tạo, bồi dưỡng báo chí.
Dự án "Hỗ trợ Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí" là sự kế thừa những kết quả đã đạt được ở những giai đoạn trước và nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp trong việc tổ chức các hoạt động đào tạo cũng như triển khai các chương trình đào tạo. Các hoạt động của dự án thể hiện tính bền vững của dự án, phát huy vai trò tự chủ của cơ quan chủ trì và cơ quan thực hiện dự án.
Các hoạt động của Dự án "Hỗ trợ Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí" tập trung vào 2 nhiệm vụ chính:
- Tăng cường nâng cao năng lực cho lãnh đạo và cán bộ Trung tâm để sau khi dự án kết thúc, Trung tâm bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí sẽ là một cơ sở đào tạo bồi dưỡng nâng cao chuyên nghiệp và có uy tín cho đội ngũ nhà báo Việt Nam.
- Hỗ trợ ngân sách tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ để qua đó Trung tâm tiếp tục được trải nghiệm những kinh nghiệm và xây dựng năng lực của mình trong việc điều hành và tổ chức hoạt động.
Các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ chủ yếu đã thực hiện:
1. Khóa Kỹ năng viết báo hiện đại
Đây là chủ đề có nhu cầu đào tạo lớn nhất ở Việt Nam. Nhiều phóng viên, nhà báo Việt Nam đang làm việc tại các cơ quan báo chí nhưng chưa qua đào tạo nghiệp vụ báo chí cơ bản. Các khoá đào tạo này đã giúp phóng viên hệ thống lại một cách đầy đủ những lý luận nghiệp vụ cơ bản của báo chí, đặc biệt là bồi dưỡng kỹ năng chuyên nghiệp của nhà báo. Đối tượng học viên là phóng viên, biên tập viên được lựa chọn từ các cơ quan báo chí trên toàn quốc.
2. Khóa Thiết kế và trình bày báo hiện đại
Đây là lớp học được tất cả các học viên đánh giá rất cao. Việc kết hợp lý thuyết với thực hành trên máy tính chuyên dụng đã giúp học viên củng cố nhanh những kiến thức tiếp thu được và tự tin trong công việc thiết kế trình bày. Đây là lĩnh vực có thay đổi nhanh nhất, dễ nhận biết nhất trên các sản phẩm báo chí.
3. Khóa Ảnh báo chí
Chủ đề đào tạo này thực sự cần thiết cho các nhà báo Việt Nam vì khoá học đã cung cấp các kiến thức về kỹ năng chụp, xử lý ảnh và cách đặt tiêu đề cho các bức ảnh đạt hiệu quả nhất.
4. Khóa Viết tin cho báo mạng điện tử
Báo mạng là loại hình báo chí mới, nhu cầu đào tạo về báo chí điện tử ở Việt Nam rất cao và các khoá đào tạo báo điện tử đã trang bị những kiến thức cơ bản về báo mạng, cách viết, cách trình bày trên loại hình báo rất mới mẻ này.
5. Các khóa dành cho lãnh đạo quản lý tòa soạn báo 
Việc tổ chức các khoá đào tạo quản lý báo chí  thực sự giúp cho lãnh đạo cơ quan báo chí có được một cái nhìn tổng quan về quản lý báo chí hiện đại, phương pháp tổ chức, điều hành một toà soạn cơ quan báo chí hiện đại.
Đối tượng của khoá học là đội ngũ lãnh đạo của các cơ quan báo chí (Tổng biên tập, Phó Tổng biên tập, Trưởng ban, Thư ký toà soạn).
6. Các khóa liên kết:
Đây là hình thức tổ chức các khóa đào tạo kết hợp kỹ năng viết, ảnh và trình bày. Mỗi cơ quan báo chí cần cử một nhóm phóng viên, biên tập viên, họa sĩ trình bày, phóng viên ảnh để cùng phối hợp ra một sản phẩm báo chí. Các khóa học này đạt hiệu quả khá cao, tuy nhiên, để cử một nhóm cán bộ cho một khóa học 5 - 10 ngày là một khó khăn cho cơ quan báo chí.
7.Các khóa đào tạo giảng viên:  
Nội dung của chương trình đào tạo này nhằm đào tạo phương pháp giảng dạy cho giảng viên, trợ giảng Việt Nam để có thể phối hợp nhịp nhàng với giảng viên nước ngoài tất cả các chương trình đào tạo trong khuôn khổ dự án. Nội dung khóa học tập trung vào các phương pháp giảng dạy trong các khoá đào tạo nâng cao cho nhà báo chuyên nghiệp.
8. Các khóa đào tạo tại chỗ 
Đây là hình thức đào tạo đồng bộ các khâu ngay trong một toà soạn báo, đòi hỏi các cơ quan báo chí cùng một lúc phải đảm bảo được các hoạt động nghiệp vụ hàng ngày, vừa phải đảm bảo việc học tập theo chương trình. Hiệu quả và tác động của hình thức đào tạo này rất dễ nhận biết thông qua các sản phẩm báo chí.
Ngoài các hình thức đào tạo, bồi dưỡng trên, còn có rất nhiều hình thức hội thảo, tọa đàm, các cuộc thi, triển lãm đều nhằm mục đích nâng cao năng lực chuyên môn cho các nhà báo, giúp các nhà báo chủ động hội nhập và phát triển kỹ năng nghiệp vụ nhằm tạo ra các sản phẩm báo chí chất lượng cao.
  2.2. Các hoạt động hợp tác thông qua Biên bản thỏa thuận, Biên bản ghi nhớ, các chương trình hợp tác giữa các bên
Việc ký kết các Biên bản ghi nhớ, hợp tác song phương, đa phương trên nhiều lĩnh vực nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành thông tin và truyền thông tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới được coi là hình thức hợp tác linh hoạt và gợi mở. Tính chất của việc ký biên bản thỏa thuận là ngắn hạn, linh hoạt về nội dung hợp tác và chỉ tập chung vào các nhóm vấn đề cụ thể. Tuy không mang tính dài hơi nhưng đây là hình thức hợp tác dễ thực hiện, không bị bó buộc trong một khuôn khổ, các bước thực thi, thủ tục pháp lý đơn giản và linh hoạt hơn nên nhiều đối tác, tổ chức quốc tế thường lựa chọn mô hình hợp tác này.
Từ năm 2010 đến nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đã mở rộng nhiều hoạt động hợp tác theo mô hình này. Các Biên bản thỏa thuận hợp tác có thể do Bộ đứng ra trực tiếp ký với các đối tác, có thể được giao cho Vụ Hợp tác quốc tế chủ trì và các đơn vị thuộc Bộ thực hiện, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình.
* Biên bản thỏa thuận giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Đại sứ quán Anh:
Ngày 14/10/2010, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ký Biên bản thỏa thuận với Đại sứ quán Anh về việc hợp tác trong lĩnh vực thông tin và truyền thông. Việc ký Biên bản thỏa thuận này nằm trong khuôn khổ Tuyên bố chung về thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt - Anh vừa ký tại Luân đôn ngày 10/9/2010. Nội dung của Biên bản thỏa thuận giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và Đại sứ quán Anh tập trung vào:
- Tăng cường quan hệ hợp tác song phương, trong đó lĩnh vực hỗ trợ phát triển là một trong những lĩnh vực ưu tiên.
- Tăng cường đối thoại và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị nhà nước, phát triển báo chí và tương tác giữa chính phủ và người dân.
Trên cở sở thoả thuận giữa hai bên về hợp tác chung trong lĩnh vực báo chí, hai Bộ nhất trí về nguyên tắc rằng sự hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm được tiến hành trong các lĩnh vực mà hai bên cùng quan tâm.
Với mục đích nêu trên, hai Bên nhất trí về nguyên tắc rằng sẽ hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong những lĩnh vực liên quan đến thông tin và báo chí mà hai Bên cùng quan tâm. Các hoạt động có thể, nhưng không hạn chế, bao gồm:
- Tăng cường đối thoại chính sách ở cấp cao về vai trò của báo chí trong xã hội.
- Trao đổi ý kiến về việc hoàn thiện và thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động của báo chí tại Việt Nam như: (a) quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; (b) quy chế người phát ngôn; (c) hành lang pháp lý cho hoạt động báo chí.
Tăng cường hợp tác liên quan đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo Việt Nam nhằm xây dựng một nền báo chí mang tính chuyên nghiệp, có khả năng tương tác cao với công chúng. Trong đó, chú trọng các vấn đề như: (a) Tăng cường khả năng của báo chí trong việc phản ánh những vấn đề quan trọng của quốc gia như giảm nghèo, phòng chống tham nhũng, hội nhập kinh tế; (b) Đào tạo, bồi dưỡng phóng viên về quy trình tác nghiệp ở các sự kiện quan trọng tầm quốc gia và quốc tế; (c) Nâng cao chất lượng đào tạo báo chí và đạo đức báo chí mà dự án MediaPro do Bộ Ngoại giao Anh tài trợ và thực hiện bởi Hội đồng Anh đã triển khai.
Tăng cường chia sẻ kinh nghiệm quan liên quan đến điều hành cơ quan báo chí như: (a) Đào tạo nâng cao nghiệp vụ về phương thức quản lý các toà soạn đa phương tiện; (b) Tổ chức các hội thảo tư vấn về kinh doanh trong báo chí.
Thông qua việc thảo luận thường xuyên, ít nhất mỗi năm một lần, hai Bên sẽ cùng nhau quyết định, trong khuôn khổ khả năng tài chính của mỗi bên, về chương trình hợp tác trong các lĩnh vực cùng quan tâm, về nguyên tắc sẽ không giới hạn ở các lĩnh vực đã nêu ở trên mà còn mở rộng ra các lĩnh vực khác, nếu hai bên thấy cần thiết.
Hình thức hợp tác có thể bao gồm: (a) Tổ chức các hội nghị, hội thảo, các đoàn khảo sát, các khoá bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ năng báo chí; (b) Tổ chức các khoá đào tạo tại chỗ về quy trình làm báo trong thời đại báo chí đa phương tiện cho cơ quan báo chí; (c) Tổ chức các khoá bồi dưỡng giảng viên, trợ giảng, phiên dịch cho dự án; (d) Trao đổi các đoàn cán bộ quản lý, lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên/biên tập viên để chia sẻ kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực báo chí và các hình thức hợp tác khác do hai bên quyết định.
* Các Biên bản hợp tác giữa Bộ Thông tin và truyền thông và Văn phòng UNESCO tại Hà Nội:
Hoạt động hợp tác với tổ chức UNESCO tại Hà Nội trong lĩnh vực thông tin và truyền thông là một hoạt động mang tính thường xuyên, có kế hoạch hàng năm và đi vào những chủ đề cụ thể như: Biến đổi khí hậu; Truyền thông có nhạy cảm giới; Nghiên cứu các mô hình đào tạo báo chí. Đây là những chủ đề rất thiết thực cho đội ngũ báo chí Việt Nam. Nguồn ngân sách của UNESCO thường không lớn nhưng được duy trì đều đặn theo kế hoạch.
Đặc biệt, trong năm 2014, Văn phòng UNESCO tại Việt Nam phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện hoạt động “Xây dựng Bộ chỉ số về giới cho Truyền thông Việt Nam”. Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ Báo chí (MTC) được Bộ giao nhiệm vụ chủ trì phối hợp với UNESCO để thực hiện hoạt động này.
Ở những giai đoạn trước, UNESCO đã phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để thực hiện “Chương trình chung Việt Nam và Liên Hợp quốc về Bình đẳng Giới” trong đó UNESCO, Viện Phát triển Phát thanh và Truyền hình châu Á - Thái Bình Dương (AIBD) và Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện hoạt động bối cảnh hóa bộ tài liệu Hướng dẫn lồng ghép giới vào truyền thông ở Việt Nam và hoạt động tập huấn cho nhà báo.
Kết quả đáng ghi nhận trong việc hợp tác với UNESCO là Bộ Thông tin và Truyền thông đã xuất bản được cuốn Bộ Chí số về giới trong truyền thông của Việt Nam. Bộ Chỉ số sẽ cung cấp các tiêu chí hỗ trợ các nhà quản lý báo chí, các cơ quan báo chí, các tổ chức truyền thông đánh giá công tác truyền thông về giới trong cơ quan của mình, nhằm thúc đẩy Bình đẳng giới trong các cơ quan truyền thông.
* Các hoạt động hợp tác với tổ chức Oxfam Việt Nam:
Oxfam là một liên minh quốc tế gồm 17 tổ chức cùng phối hợp hoạt động tại 94 quốc gia trên thế giới. Oxfam là một phần của phong trào toàn cầu nhằm đem lại tác động lớn hơn trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo và đấu tranh cho bình đẳng. Tại Việt Nam, Oxfam là một trong những tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động trong các lĩnh vực phát triển nông thôn, giảm thiểu rủi ro và ứng phó với biến đổi khí hậu và thảm họa, phát triển xã hội dân sự và cộng đồng thiểu số, nâng cao vị thế phụ nữ.
Để hỗ trợ đạt được mục tiêu lồng ghép giới trong các hoạt động báo chí, tổ chức Oxfam đã có một dự án phối hợp với Cục Báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai một chuỗi hoạt động gồm hội thảo, tập huấn báo chí viết về nhạy cảm giới nhằm nâng cao nhận thức của các nhà báo về giới và trang bị cho họ kỹ năng viết báo có nhạy cảm giới.
Các hoạt động do Oxfam hỗ trợ về tài chính thông qua tổ chức các khóa tập huấn phổ biển những kiến thức cơ bản về giới cho các nhà báo nhằm tránh những “sạn” về vấn đề giới tính trong các tác phẩm báo chí. Các khóa tập huấn đưa ra những khái niệm cơ bản nhất về thế nào là bình đẳng giới, thế nào là bất bình đẳng giới, cùng các góc nhìn chân thật và đa chiều nhất về các định kiến giới tồn tại trong suy nghĩ và cách thức nhìn nhận mọi vấn đề của xã hội. Từ đó sẽ định hướng và trang bị cho các nhà báo, phóng viên những kỹ năng để giúp họ cho ra những tác phẩm báo chí không có định kiến giới, và có tính nhạy cảm giới trong đó.
04 khóa tập huấn về Giới do tổ chức Oxfam tài trợ đã giúp các phóng viên, nhà báo đến từ các cơ quan báo chí có cách nhìn nhận hoàn toàn mới về vấn đề giới trong truyền thông cũng như những hệ lụy có thể xảy ra nếu thiếu tính nhạy cảm giới trong các sản phẩm báo chí và tầm ảnh hưởng của truyền thông đến thế giới quan và sự nhìn nhận của độc giả. Nếu báo chí có tính nhạy cảm giới cùng những bài viết, phóng sự đi đúng hướng và không có sự phân biệt hay định kiến giới trong đó sẽ góp phần định hướng suy nghĩ của độc giả về sự bình đẳng giới và dần dần xóa bỏ những định kiến suy nghĩ lối mòn trước đây, góp phần không nhỏ trong mục tiêu đẩy lùi bất bình đẳng giới trong xã hội.
Thực tế cho thấy, nguồn kinh phí do các tổ chức quốc tế hỗ trợ cho các hoạt động bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho báo chí thông qua các biên bản thỏa thuận, biên bản ghi nhớ, các chương trình, dự án ngắn hạn… thường không lớn. Tuy nhiên, đây cũng là một nguồn hỗ trợ không thể thiếu, nó bổ sung một phần đáng kể vào nguồn ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng, bởi nó rất đa dạng, dễ khai thác và thường được triển khai theo chuỗi hoạt động. Đặc biệt, đối với các khóa tập huấn có những nội dung chuyên biệt như các hoạt động nêu trên thì mô hình hợp tác này cũng đã mang đến những thành công đáng ghi nhận.
* Các hoạt động đào tạo báo chí bằng nguồn vốn nước ngoài của Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí của Hội Nhà báo Việt Nam:
Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ của Hội Nhà báo Việt Nam là đơn vị có nhiệm vụ tổ chức các khóa tập huấn nâng cao cho đội ngũ hội viên cả về kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp. Đây cũng là đơn vị có nhiều kinh nghiệm hợp tác với các cơ quan, tổ chức nước ngoài để kìm kiếm nguồn tài trợ cho đào tạo.
Với hợp tác báo chí quốc tế, Trung tâm đã phối hợp với rất nhiều cơ sở đào tạo báo chí trên thế giới như Trường Đại học Báo chí Lille (Cộng hoà Pháp), Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP), Tổ chức UNESCO và Tổ chức sáng kiến Internet toàn cầu (GIPI) đã tổ chức gần 100 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí và hội thảo cho gần 2000 hội viên Hội Nhà báo trong cả nước. Trung tâm đã thực hiện chương trình, dự án và phối hợp với các tổ chức quốc tế, tổ chức được 62 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho 1100 hội viên.
Trung tâm tiếp tục thực hiện dự án “Hỗ trợ hoạt động Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam” do Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Pháp ký năm 2002. Ngoài thực hiện chương trình, dự án, Trung tâm còn phối hợp với các tổ chức quốc tế như INFOSUD, WB, WHO, UNAIDS, FES… tổ chức được nhiều lớp bồi dưỡng nghiệp vụ. Nội dung của các lớp tập huấn tập trung vào các lĩnh vực: Đào tạo giảng viên, quản lý ban biên tập báo viết, phát thanh, truyền hình, thông tin kinh tế, phóng sự điều tra, viết về dịch cúm SARS, Festival Huế, chợ Long Biên, chiến thắng Điện Biên Phủ…
Trung tâm phối hợp với GIPI tổ chức hội thảo “Báo chí và các chính sách Internet ở Việt Nam”; phối hợp với UNDP tổ chức 01 Hội thảo về “8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ”; phối hợp tổ chức 8 hội thảo về dịch cúm AH1N1; phối hợp với Hội đồng Anh tổ chức 03 Hội thảo về “Đạo đức báo chí”.
Từ năm 2010 đến nay, Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí của Hội nhà báo thực hiện dự án hợp tác đào tạo với Hiệp hội báo chí thế giới và xuất bản tin tức (WAN-IFRA). Hiệp hội báo chí thế giới và Xuất bản tin tức, có trụ sở đăng ký tại số 7 Geoffroy Saint Hilaire, 75005, Paris, Pháp. Dự án đào tạo của WAN-IFRA tổ chức tại Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí, Hội Nhà báo Việt Nam bắt đầu từ tháng 6/2010 và kéo dài đến hết năm 2011. Hội Nhà báo Việt Nam (VJA) và Hiệp hội báo chí thế giới và Xuất bản tin tức (WAN-IFRA) đã xác định được cơ hội trợ giúp phát triển năng lực cho báo chí Việt Nam thông qua việc xây dựng và hỗ trợ các chương trình đào tạo báo chí mà VJA đang thực hiện.
2.3. Sự hỗ trợ kinh phí của các tổ chức quốc tế cho công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao dưới hình thức tài trợ trực tiếp cho các cơ quan báo chí
Đây là hình thức hỗ trợ đào tạo đang có xu hướng phát triển trong lĩnh vực báo chí. Nhiều tổ chức quốc tế sẵn sàng chi trả kinh phí để mời các chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy kỹ năng nghiệp vụ cho phóng viên hoặc có các chương trình ngắn hạn, tài trợ riêng cho các cơ quan báo chí (Tổ chức KAS, INWENT, WAN, BBC...). Tuy nhiên, đây là những chương trình nhỏ lẻ, chỉ có một, hai hoạt động đào tạo nên chưa có tầm ảnh hưởng lớn như các nguồn dự án khác.
Ngoài những hoạt động hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng cho nhà báo Việt Nam được thực hiện thông qua các Hiệp định, các biên bản ghi nhớ, việc hỗ trợ trực tiếp cho các đơn vị, tổ chức báo chí cũng là một cách thức do các nhà tài trợ lựa chọn. Mô hình này dựa vào mối quan hệ chặt chẽ, lâu dài giữa các đối tác và đảm bảo nguồn hỗ trợ kinh phí đến trực tiếp các đơn vị thụ hưởng. 
* Đài Tiếng nói Việt Nam
Từ năm 2003 - 2008, với sự giúp đỡ của Đài Phát thanh - Truyền hình Quốc tế Ðức (DW), qua 5 giai đoạn của dự án, các lớp đào tạo về lưu trữ âm thanh số trong khuôn khổ dự án Số hoá hệ thống lưu trữ âm thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam đã mang lại hiệu quả tốt và đang được Đài Tiếng nói Việt Nam ứng dụng trong công tác lưu trữ âm thanh; bắt đầu việc tìm hiểu dữ liệu mà Đài Tiếng nói Việt Nam có; các cán bộ, kỹ thuật viên của Đài Tiếng nói Việt Nam sang Đức tìm hiểu về hệ thống tại DW; xây dựng hệ thống tại Đài Tiếng nói Việt Nam; quản lý dữ liệu đến và cuối cùng là việc lưu trữ âm thanh số và quản lý dữ liệu. Ðể vận hành hệ thống này một cách hiệu quả thì cần đào tạo ít nhất 1000 người (trong đó các phóng viên cũng cần phải hiểu cách vận hành hệ thống) và trong tương lai cũng cần đào tạo cán bộ của Đài địa phương để họ có thể truy cập, khai thác hệ thống này. Vì vậy, nhu cầu đào tạo và hợp tác đào tạo truyền thông trong lĩnh vực này với DW là rất lớn. Bên cạnh đó, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng làm việc chặt chẽ với các tổ chức quốc tế khác như AIBD, ABU… trong hợp tác đào tạo truyền thông cho cán bộ của Đài.
Một chương trình hợp tác với sự hỗ trợ kinh phí của tổ chức Sida Thụy Điển cho Đài Tiếng nói Việt Nam là dự án “Đào tạo lãnh đạo quản lý báo chí”. Đây là dự án có thời hạn 3 năm (2010 - 2013) do Đài Tiếng nói Việt Nam làm chủ dự án, có sự phối hợp với Đài Phát thanh Thụy Điển. Mục đích của dự án này là bằng nguồn kinh phí hỗ trợ của tổ chức Sida Thụy Điển, Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ tổ chức các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho 72 cán bộ là lãnh đạo tầm cao và tầm trung của các cơ quan báo chí lớn của cả nước. Nội dung các khóa tập huấn tập trung vào:
- Lãnh đạo quản lý báo chí trong thời đại hội tụ công nghệ;
- Quản lý tòa soạn Đa phương tiện;
- Kinh doanh báo chí.
Khóa học được tổ chức ở Việt Nam và Thụy Điển. Theo báo cáo đánh giá của dự án, đây là một chương trình bổ ích và thiết thực, cung cấp cho các lãnh đạo cơ quan báo chí những kiến thức thực tế nhằm lãnh đạo và quản lý cơ quan báo chí hiệu quả hơn trong tình hình mới.
Ngoài ra, Đài Tiếng nói Việt Nam đã ký Văn bản hợp tác với gần 40 tổ chức phát thanh trong khu vực và trên thế giới. Trong mối quan hệ quốc tế, các tổ chức phát thanh đã hợp tác và hỗ trợ về đào tạo cho Đài Tiếng nói Việt Nam. Các hình thức đào tạo chủ yếu là đào tạo dài hạn ở nước ngoài, đào tạo ngắn hạn trong nước, các lớp tập huấn trong và ngoài nước, các đoàn ra vào trao đổi kinh nghiệm...
* Thông tấn xã Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay, Thông tấn xã Việt Nam ký một số hiệp định hợp tác song phương với các hãng thông tấn, tổ chức báo chí, trong đó tăng cường về mở rộng hợp tác đào tạo, bồi dưỡng. Chỉ riêng từ năm 1985 đến nay, Thông tấn xã Việt Nam đã phối hợp với  các tổ chức quốc tế như UNESCO, OANA, Roi-tơ (Anh), Trường Đại học báo chí Lille (Cộng hoà Pháp), Viện Kas (Konnad Adenauer Foundation), Thomson foundation, Asia Pulse, Hội đồng Anh và Tổ chức báo chí độc lập (IJF - Mỹ)... mở các lớp đào tạo chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên của Thông tấn xã Việt Nam.
Các lớp đào tạo nâng cao nghiệp vụ trên được tổ chức bằng nguồn kinh phí do phía nước ngoài chi trả.
2.4. Đánh giá tổng thể tác động của đào tạo, bồi dưỡng báo chí thông qua hợp tác quốc tế.
2.4.1. Những kết quả đạt được
- Tác động về mặt quản lý
Nhìn chung, các hoạt động đào tạo nâng cao nghiệp vụ báo chí do các nguồn kinh phí nước ngoài tài trợ được thực hiện qua đường viện trợ ODA như dự án “Đào tạo nâng cao báo chí Việt Nam” của Bộ Văn hoá - Thông tin trước đây và nay là dự án "Hỗ trợ Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí" của Bộ Thông tin và Truyền thông, dự án "Hỗ trợ hoạt động Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí” của Hội Nhà báo Việt Nam hay các hoạt động thông qua việc ký kết biên bản thỏa thuận, biên bản ghi nhớ, các chương trình dự án độc lập… của các tổ chức quốc tế với các cơ quan khác nhau của Việt Nam đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng nội dung và hình thức trình bày báo, nâng cao năng lực tổ chức và quản lý của các cơ quan báo chí. 
Đối với những nhà quản lý đã qua các chương trình đào tạo được thể hiện ở hiệu quả việc áp dụng kiến thức học được vào công việc của mình. Lãnh đạo cơ quan báo chí đã chuyển cách làm báo hành chính, thiếu kế hoạch sang tính chuyên nghiệp, việc dân chủ bàn bạc giữa các thành viên trong đơn vị thông qua việc duy trì giao ban đầu giờ hàng ngày và tôn trọng những ý tưởng của phóng viên được phát huy hơn trước.
Cơ chế hoạt động của các cơ quan báo chí đã mang tính chuyên nghiệp, thể hiện ở: Tổ chức sản xuất hợp lý, phân công rõ trách nhiệm của từng cá nhân trong từng khâu; quản lý phóng viên bằng quy chế, định mức…
- Tác động về mặt nghiệp vụ
+ Phương thức làm chương trình và làm tin trực tiếp được thực hiện, tin tức luôn cập nhật, phản ánh trung thực thực tiễn cuộc sống, tính trách nhiệm của cá nhân trong đơn vị được nâng lên, tạo môi trường đào tạo tốt cho đội ngũ phóng viên trẻ mới vào nghề (đối với truyền hình).
Cải tiến về phong cách viết tin, bài theo hướng ngắn gọn, khúc chiết, đổi mới việc đưa tin lễ tân trên các trang báo; có chuyên đề riêng cho từng số báo.
+ Trình bày báo có thay đổi cơ bản theo lôgic, hướng người đọc vào những tin, bài chính của từng số báo; chuyên nghiệp trong cách trình bày trang báo và đẹp về hình thức để hấp dẫn người đọc; thay đổi cấu trúc từng trang báo cho phù hợp và hấp dẫn hơn; thay đổi khổ báo cho tiện lợi với người đọc.
+ Thay thế phương pháp trình bày báo thủ công sang phương pháp hiện đại sử dụng tin học để trình bày nên thời gian được rút ngắn, hỗ trợ đắc lực cho việc tin, bài cập nhật và mang tính thời sự hơn.
+ Chất lượng ảnh báo chí phần nào đã được nâng cao qua các chương trình đào tạo của dự án, ảnh báo chí đã được quan tâm hơn, chọn lọc kỹ hơn và đặc biệt là chọn ảnh chủ cho trang 1 của từng số báo.
+ Thông qua đào tạo nghiệp vụ lại tác động trực tiếp đến đạo đức nghề nghiệp của phóng viên như: Sự chính xác của thông tin, thông tin vì lợi ích của quốc gia, của cộng đồng; tính minh bạch trong hoạt động của phóng viên.
- Tác động về mặt tổ chức
+ Các toà soạn báo cải tiến bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả, sắp xếp hợp lý giữa các phòng ban, tăng tính trách nhiệm và hợp tác giữa các khâu sản xuất trong từng toà soạn và theo đặc thù của từng tờ báo, giảm khâu quản lý trung gian.
+ Đối với truyền hình có đổi mới cơ bản trong tổ chức và sản xuất bản tin thời sự hàng ngày và tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình của đài khu vực đã qua khoá đào tạo tại chỗ của dự án.
+ Một số tờ báo lớn của trung ương, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập các bộ phận chuyên đề kịp thời xử lý các tin nóng.
+ Xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của phòng Marketing là hoạch định chiến lược về thị trường cho toà báo nên đã củng cố và sắp xếp lại nhân sự cho bộ phận này.
- Tác động về mặt sản phẩm
+ Chất lượng báo chí được nâng cao dẫn đến việc tăng trang, tăng kỳ và tăng số lượng phát hành.
+ Đa dạng hoá sản phẩm, đổi mới phong cách trình bày dẫn đến việc thu hút thêm nhiều quảng cáo cho tờ báo.
- Sự phối hợp giữa các bộ, ngành
Hợp tác phát triển trong lĩnh vực thông tin với nước ngoài được thực hiện không chỉ nằm trong khuôn khổ các hoạt động của Bộ Thông tin và Truyền thông. Đó là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Thông tin và Truyền thông và các Bộ, ngành liên quan. Thực tế cho thấy, để các hoạt động hợp tác quốc tế, cụ thể là việc triển khai nội dung các Biên bản thỏa thuận hợp tác song phương, đa phương, việc ký kết các Hiệp định cụ thể được thực hiện theo đúng những quy định hiện hành, Bộ Thông tin và Truyền thông đã có sự  thảo thuận, trao đổi ý kiến của các Bộ, ngành liên quan như Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao...
Tóm lại, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí có những đặc thù riêng, đòi hỏi không chỉ kinh nghiệm, mà còn là sự nhạy bén trong việc lựa chọn các đối tác, các vấn đề hợp tác phù hợp với sự phát triển của báo chí nước nhà. 
Một số hạn chế
Bên cạnh những tác động tích cực mà các chương trình hỗ trợ đào tạo báo chí bằng nguồn kinh phí nước ngoài mang lại cho báo chí Việt Nam trong những năm qua, vẫn còn không ít những khó khăn, tồn tại cần phải giải quyết để báo chí nước ta ngày càng xứng đáng với vai trò và trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó. Cụ thể ở các vấn đề sau đây:
* Hạn chế do các yếu tố khách quan
- Giữa Việt Nam và các nước có nhiều điểm khác nhau về văn hóa, về thể chế chính trị - xã hội cũng như về trình độ nghiệp vụ... nên việc hợp tác trong lĩnh vực báo chí còn rất nhiều hạn chế. 
- Việc chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về báo chí mới chỉ dừng ở mức độ tổ chức các chuyến khảo sát, nghiên cứu kinh nghiệm ở nước ngoài chứ chưa có một hợp tác cụ thể mang tính tổng thể và bền vững cho đội ngũ những nhà quản lý báo chí.
- Việc phối hợp giữa các bộ, ngành để triển khai một Biên bản thỏa thuận hợp tác hoặc để ký kết một Hiệp định còn nhiều bất cập về mặt thủ tục hành chính dẫn đến thời gian hoàn chỉnh và đi đến ký kết thường mất từ 3-6 tháng.
- Bộ phận làm công tác hợp tác quốc tế của các đơn vị còn yếu về năng lực chuyên môn, về ngoại ngữ, hạn chế về kỹ năng xây dựng và triển khai dự án, chưa chủ động tìm kiếm các cơ hội hợp tác, chủ yếu vẫn trong tình trạng bị động, chờ đề xuất của đổi tác.
- Các hoạt động hợp tác vẫn mang tính riêng rẽ, chưa có sự liên kết nhằm phát huy sức mạnh tổng thể.
- Một số chương trình bồi dưỡng riêng lẻ ở một số cơ quan báo chí thông qua các dự án được ký kết bằng con đường Chính phủ nên việc quản lý nội dung, chương trình, giảng viên còn thiếu chặt chẽ.
* Hạn chế do các yếu tố chủ quan
- Việc đào tạo còn chưa đồng bộ, dẫn đến việc áp dụng kiến thức của học viên vào công việc hàng ngày chưa cao.
- Một số cơ quan báo chí có phóng viên tham gia rất nhiều khoá đào tạo nhưng việc đào tạo chưa đồng bộ ở các toà soạn từ lãnh đạo đến các phòng, ban nên việc áp dụng kiến thức còn khó khăn.
- Các dự án đào tạo chưa có chương trình đào tạo tổng thể cho đội ngũ những người làm báo mà chỉ tập trung ở một số cơ quan báo chí nên vẫn tồn tại khoảng cách về chuyên môn giữa báo trung ương và báo địa phương.
- Các khoá đào tạo chưa tổ chức được cho tất cả các loại hình báo chí, các cơ quan thông tấn báo chí trên cả nước mà chỉ mang tính chọn lọc vì vậy hiệu quả mang lại thiếu đồng bộ.
Việc tổ chức đào tạo các khóa học tại chỗ góp phần thúc đẩy cả bộ máy thay đổi nhưng cũng nảy sinh nhiều vấn đề. Phóng viên học tập trung sẽ khó khăn cho tòa soạn khi triển khai các công việc cụ thể hàng ngày, một số phóng viên không có thời gian đi công tác để thực hiện những đề tài dài hơi. Như vậy, việc kết hợp giữa học và hành đôi khi chưa phát huy được tác dụng. Trình độ phóng viên và lĩnh vực theo dõi khác nhau nên khi học cũng tạo ra tâm lý khác nhau. Nhiều phóng viên rất thích, thường xuyên trao đổi với giảng viên, nhưng cũng có những phóng viên không thích, việc học chỉ là bắt buộc nên dẫn đến tình trạng học đối phó.
Một vấn đề nữa là việc học tập trung còn mang tính dàn đều, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể khiến những phóng viên theo dõi lĩnh vực chuyên sâu không hào hứng. Vì vậy, việc tham khảo ý kiến, thảo luận về nội dung đào tạo với các cơ quan báo tổ chức các khóa đào tạo tại chỗ là rất cần thiết. Nội dung chương trình đào tạo sẽ phù hợp và thiết thực, hiệu quả hơn đối với tờ báo đó. Nếu không có sự trao đổi, có thể những nội dung đào tạo sẽ thiếu thực tế và không đem lại hiệu quả mong muốn.

Mặc dù còn nhiều bất cập và khó khăn khi thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao báo chí cho đội ngũ nhà báo bằng nguồn vốn nước ngoài nhưng không thể phủ nhận đó là nguồn kinh phí hết sức cần thiết, góp phần không nhỏ cho chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, giúp đội ngũ nhà báo Việt Nam có khả năng tiến kịp với đồng nghiệp trong khu vực và trên thế giới. Do đó, việc tiếp tục tìm kiếm các nguồn tài trợ bên ngoài vẫn là công việc hết sức cần thiết - một công việc cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, tổ chức và chính bản thân các cơ quan báo chí.
III. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng báo chí thông qua việc hợp tác quốc tế với bên ngoài.
Việc đào tạo nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ báo chí bằng nguồn kinh phí nước ngoài đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc thúc đẩy sự phát triển của một nền báo chí hiện đại và mang tính chuyên nghiệp cao ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc đào tạo nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho nhà báo bằng nguồn kinh phí nước ngoài phải được thực hiện đúng theo quy định của nhà nước. Các cơ quan, đơn vị khi nhận được nguồn tài trợ của các tổ chức nước ngoài để tổ chức các khoá học, nhất thiết phải thông qua cơ quan quản lý nhà nước về báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) để bảo đảm sự quản lý chặt chẽ về chương trình, nội dung, giảng viên cũng như sự thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
1. Xây dựng cơ chế, chính sách
- Hợp tác quốc tế trong đào tạo dựa trên cơ sở quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, các cơ sở đào tạo. Mỗi quốc gia, khu vực có những đặc thù riêng, có mối quan hệ khác nhau với Việt Nam. Vì vậy, hợp tác quốc tế cần linh hoạt, thích ứng với từng quốc gia, khu vực. Để hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho các nhà báo ở Việt Nam đạt hiệu quả như mong muốn, cần có cơ chế, chính sách chung và cơ chế, chính sách đặc thù cho từng khu vực, từng giai đoạn cụ thể.
- Hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ báo chí cần được nghiên cứu, đánh giá theo từng giai đoạn và ở mức độ tổng thể để có thể đúc rút kinh nghiệm, đánh giá mặt được, mặt hạn chế. Từ đó, có những giải pháp cụ thể cho giai đoạn tiếp sau cũng như trong công tác tham mưu, xây dựng kế hoạch, đề án, chương trình hợp tác khác. Tuy nhiên, hoạt động này cần có kinh phí, cần sự đầu tư, khuyến khích của các cơ quan liên quan. Các cơ quan chức năng cần rà soát, xây dựng, bổ sung chính sách, cơ chế đầu tư kinh phí cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo báo chí. Trước mắt, kiến nghị lãnh đạo các cấp quản lý tài chính phân bổ kinh phí cho hoạt động trên.
- Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ báo chí cho cán bộ, phóng viên của mỗi tòa soạn cần thiết và theo yêu cầu, mức độ khác nhau. Hiện nay, nhiều cơ quan báo chí có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các cơ quan báo chí nước ngoài. Hàng năm, có những đoàn phóng viên, biên tập viên sang tham quan, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Tuy nhiên, các hoạt động hợp tác đối ngoại này chưa được đầu tư theo hướng trao đổi học tập mà nghiêng về hướng tham quan nhiều hơn do hạn chế về thời gian, điều kiện tài chính... Đây là hoạt động cần đầu tư, khuyến khích theo hướng tăng cường trao đổi kinh nghiệm làm báo, học tập kỹ năng tác nghiệp, quản lý. Vì vậy, nên có cơ chế hỗ trợ các cơ quan báo chí trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, nâng cao năng lực quản lý và  năng lực hội nhập. Nếu có cơ chế, chính sách và có sự đầu tư bài bản đối với từng cấp độ, từng đối tượng thì hoạt động này sẽ đạt hiệu quả tốt hơn, thiết thực với mỗi cơ quan báo chí.
-  Hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ báo chí cho các nhà báo ở nước ta còn dàn trải, chưa có sự phân loại đối tượng. Trong khi, trình độ tác nghiệp của đội ngũ nhà báo không đồng đều, các tòa soạn báo cũng phát triển ở mức độ khác nhau. Chính điều này ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động hợp tác đào tạo và gây lãng phí. Vì vậy, Nhà nước cần có định hướng cụ thể, đầu tư cho công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho báo chí. 
Mặt khác, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ báo chí của các cơ sở quốc tế thường dành cho đối tượng có kiến thức xã hội cao, đã tích lũy nhiều kinh nghiệm tác nghiệp, quản lý. Nếu trong bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ hoặc chính sách đầu tư hướng vào lực lượng trẻ, như các ngành, lĩnh vực khác, không tính đến đặc thù sẽ biến sự đầu tư trở nên kém hiệu quả, thậm chí, lãng phí. Vì vậy, cần hỗ trợ học bổng đào tạo nguồn lực cán bộ có kiến thức xã hội học và nghiệp vụ báo chí với mục tiêu trước mắt và lâu dài. Các cơ sở đào tạo báo chí - truyền thông cần tăng tỷ lệ các học phần chuyên sâu về xã hội học, nghiên cứu xã hội… để sau này học viên tốt nghiệp, sẽ có thể dễ hơn khi tiếp nhận văn hóa khảo sát, điều tra… hiện đại, coi đó như là việc làm thông thường và cần thiết.
2. Giải pháp về tổ chức
- Xét ở góc độ nào đó, hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí là quá trình chịu ảnh hưởng của nền báo chí đó. Trong hoạt động hợp tác, cần có sự tham gia, khuyến khích, tạo điều kiện để nhiều tổ chức cùng tham gia. Chúng ta sẽ có sự lựa chọn, lựa chọn đối tác liên kết, lựa chọn những nét tương đồng, những điểm tích cực của mỗi đối tác liên kết đào tạo. Quá trình lựa chọn cũng chính là quá trình tìm hiểu, nghiên cứu. Nó giúp nhà báo, cán bộ quản lý phân biệt rõ nét đặc thù khác biệt cũng như hạn chế của mỗi nền báo chí để có cách ứng xử phù hợp.
- Hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí được thực hiện chủ yếu từ Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, chưa thúc đẩy mạnh mẽ từ phía các cơ quan báo chí do chưa có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện từ phía nhà nước. Điều này không những làm giảm cơ hội hợp tác quốc tế mà còn khiến các cơ quan báo chí không phát huy, tận dụng được thế mạnh của mình.  
Vì vậy, cần có cơ chế, chính sách để các cơ quan báo chí cùng tham gia trực tiếp vào hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ phóng viên của mình.
- Hoạt động liên kết đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí chưa nhiều. Hiện nay, chủ yếu thực hiện ở các cơ sở đào tạo báo chí trong nước, dành cho đối tượng sinh viên, nghiên cứu sinh báo chí.
Cần tăng cường hợp tác liên kết đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đối tượng là các nhà báo đang công tác trong lĩnh vực báo chí. Tính chất, đặc thù tác nghiệp báo chí cho thấy, hợp tác quốc tế trong đào tạo bồi dưỡng theo phương pháp trao đổi kinh nghiệm, nghề truyền nghề thu được những kết quả khả quan. Những nhà báo có thời gian thực tập, học tập ở các tòa soạn báo chí nước ngoài có khả năng tác nghiệp độc lập, xử lý tài liệu chuyên nghiệp hơn. Đặc biệt, họ được tiếp thu phong cách tác nghiệp hiện đại, đáp ứng nhu cầu công việc theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.
Việc đào tạo nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho phóng viên, biên tập viên  bằng nguồn kinh phí nước ngoài phải được thực hiện đúng theo quy định của nhà nước. Các cơ quan báo chí khi nhận được nguồn tài trợ của các tổ chức nước ngoài để tổ chức các khoá học, nhất thiết phải thông qua cơ quan quản lý nhà nước về báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) để bảo đảm sự quản lý chặt chẽ về chương trình, nội dung, giảng viên cũng như sự thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
* Đối với Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông)
Cục Báo chí là đơn vị được Bộ TTTT giao nhiệm vụ tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo ở cả phương diện kỹ năng và quản lý lãnh đạo cho đội ngũ nhà báo, bởi vậy cần đề ra chiến lược phát triển lâu dài và toàn diện đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cho nhà báo.
Đồng thời, Cục Báo chí là cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, trong đó có chức năng quản lý về công tác đào tạo nâng cao báo chí trên cả nước. Các đơn vị thực hiện hoạt động đào tạo, nâng cao báo chí bằng nguồn ngân sách nước ngoài cần có sự trao đổi, thông qua của Cục Báo chí nhằm đảm bảo quản lý về nội dung một cách tốt nhất.
Cục Báo chí có đơn vị sự nghiệp trực thuộc là Trung tâm Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí, vì vậy, cần có cơ chế tăng cường năng lực cho Trung tâm để có thể trở thành cơ sở đào tạo nâng cao nghiệp vụ báo chí hàng đầu của Bộ Thông tin và Truyền thông.
* Đối với Hội Nhà báo Việt Nam
Tăng cường hơn nữa khả năng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí.
Số lượng các khóa đào tạo, bồi dưỡng do Bộ Thông tin và Truyền thông và Hội Nhà báo tổ chức phải đáp ứng nhu cầu thực tế, đặc biệt là các lớp đào tạo về nghiệp vụ quản lý cho lãnh đạo cơ quan báo chí.
Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần phong phú, đa dạng, cập nhật; tiếp cận với công nghệ truyền thông tiên tiến của thế giới.
* Đối với các cơ quan báo chí
- Hầu hết lãnh đạo các cơ quan báo chí cần được đào tạo về quản lý báo chí. Công tác đào tạo nghiệp vụ cán bộ của một số cơ quan báo chí cần được cơ quan chủ quản quan tâm đúng mức.
- Một số cơ quan chủ quản cần chú ý lập kế hoạch bồi dưỡng nguồn nhân lực. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí phải gắn với thực tiễn, tránh nặng về lý thuyết, thiếu và yếu về kỹ năng tác nghiệp. Một số cơ quan báo chí còn dễ dãi trong việc tuyển dụng phóng viên, biên tập viên, đặc biệt là tuyển dụng, sử dụng phóng viên các cơ quan đại diện và thường trú địa phương.
3. Về nội dung đào tạo
Trong hợp tác quốc tế về đào tạo, nâng cao nghiệp vụ báo chí, nội dung đào tạo đóng vai trò quan trọng. Nội dung đào tạo phải phù hợp với nhu cầu của báo chí và đặc thù xã hội của Việt Nam. Công tác hợp tác quốc tế cần chú trọng vấn đề này và có định hướng cụ thể để đạt hiệu quả trong hợp tác, liên kết. Có thể xem xét nội dung từ các góc độ khác nhau.
Phân theo chuyên đề nội dung để đào tạo, bồi dưỡng sẽ phù hợp với các khóa bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ tác nghiệp về một lĩnh vực, vấn đề nhất định. Ví dụ: Bồi dưỡng nghiệp vụ cho phóng viên mảng môi trường, mảng bình đẳng giới, mảng chống tham nhũng...
Đào tạo bồi dưỡng theo yêu cầu cụ thể của cơ quan báo chí phù hợp với hoạt động hợp tác song phương giữa 2 cơ quan báo chí có quan hệ hợp tác, hữu nghị. Ví dụ: Báo Hà Nội mới và Báo Viêng Chăn May (Lào) có quan hệ hợp tác hữu nghị. Báo Hà Nội mới nhận đào tạo phóng viên Lào theo phương thức hướng dẫn thực tập tác nghiệp tại Ban Thư ký tòa soạn Báo Hà Nội mới. Tuy nhiên, đây là hợp tác theo chiều ta giúp bạn. Cần có cơ chế nhân rộng mô hình hợp tác này theo hướng cử phóng viên Việt Nam sang học tập, thực tập ở các tòa soạn báo ở nước ngoài để họ có thể tiếp thu kiến thức tác nghiệp chuyên nghiệp hơn, hiện đại hơn.
Liên kết nhóm đào tạo là mô hình cần sự hợp tác của các cơ quan báo chí trong nhóm theo tiêu chí nào đó, hoặc trong khu vực nào đó. Liên kết nhóm cho phép phóng viên báo chí các cơ quan báo chí trong nhóm các quốc gia liên kết có thể trao đổi nghiệp vụ, trao đổi đào tạo phóng viên cho lẫn nhau, thậm chí, lập nhóm trao đổi nghiệp vụ theo chuyên đề cùng quan tâm...
Chia sẻ dữ liệu thông tin thường xuyên để đội ngũ nhà báo tự hoàn thiện trình độ nghiệp vụ cũng là một hướng mà sự tham gia, xây dựng cần có một cơ chế, chính sách chung của các quốc gia. Việc các cơ quan báo chí chia sẻ dữ liệu thông tin được xác định là hợp tác quốc tế chỉ khi có cơ chế cụ thể về hoạt động này. Nếu không, đó chỉ là hoạt động đơn lẻ mang tính tự phát, tự chịu trách nhiệm, không khuyến khích các cơ quan báo chí tham gia.
Các chương trình đào tạo đều hướng đến nghiệp vụ tác nghiệp báo chí, trong khi phương tiện giúp đội ngũ người làm báo tiếp nhận thông tin, kiến thức chưa được quan tâm. Các cơ quan tổ chức coi ngoại ngữ là điều kiện cá nhân nhà báo cần tự trang bị. Điều này chưa hợp lý vì trình độ ngoại ngữ phục vụ lĩnh vực báo chí có khác biệt với ngôn ngữ các chuyên ngành khác. Hơn nữa, để truyền tải thông tin báo chí cần sở hữu một trình độ ngoại ngữ vững vàng với vốn kiến thức, từ vựng chuyên ngành báo chí. Vì vậy, cần đưa đào tạo trình độ ngoại ngữ vào nội dung hợp tác đào tạo trong lĩnh vực báo chí.
4. Về đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ cho nhà báo
Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc đào tạo trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ nhà báo ngày càng trở nên cần thiết. Cơ hội tiếp cận với các nền báo chí hiện đại và cơ hội học hỏi kinh nghiệm từ các đồng nghiệp quốc tế chỉ có thể được thực hiện tốt khi các nhà báo được trang bị đầy đủ cả trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ.
- Để thực hiện được những kỳ vọng của hoạt động hợp tác quốc tế cần có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp hơn. Vì vậy, việc hoàn thiện bộ máy tổ chức, xây dựng đội ngũ làm công tác hợp tác quốc tế có kiến thức chuyên môn vững vàng, có đội ngũ chuyên trách trong từng lĩnh vực thông tin và có đầy đủ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu công việc là một trong những yêu cầu hàng đầu.
- Cần nâng cao nhận thức về vai trò của công tác hợp tác quốc tế với sự phát triển của ngành. Bởi lẽ, hợp tác quốc tế rút ngắn con đường tiếp cận, hòa nhập sự phát triển báo chí hiện đại.
- Tăng cường hơn nữa các hoạt động hợp tác nhằm tìm kiếm các cơ hội nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý báo chí và phóng viên, biên tập viên tại các cơ quan báo chí.
- Tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm quản lý về thông tin báo chí, đào tạo phóng viên báo chí.
- Bộ phận làm công tác hợp tác quốc tế của các đơn vị cần được đào tạo chuyên sâu về năng lực chuyên môn, về ngoại ngữ, kỹ năng xây dựng và triển khai dự án, cần chủ động tìm kiếm các cơ hội hợp tác.
IV. Kết luận
Trong xu thế hội nhập quốc tế toàn diện, việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ báo chí là điều kiện thúc đẩy quá trình phát triển chung, có tác động sâu rộng làm thay đổi và góp phần làm phong phú đa dạng, nâng cao chất lượng báo chí tại Việt Nam.
Hợp tác quốc tế trong đào tạo, nâng cao nghiệp vụ báo chí là biện pháp rút ngắn con đường đưa báo chí Việt Nam tiếp cận nhanh chóng với nền báo chí hiện đại.
Về góc độ quản lý nhà nước, việc tham gia và đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế đã giúp các nhà quản lý báo chí có cơ hội cập nhật về trình độ phát triển khoa học công nghệ tiên tiến và công tác hoạt động thông tin báo chí của các nước trong bối cảnh xã hội thông tin toàn cầu.
Tuy nhiên, Bộ Thông tin và Truyền thông là Bộ quản lý những lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm và có tác động trực tiếp đối với sự ổn định cả về an ninh, chính trị, tư tưởng và kinh tế của quốc gia đòi hỏi đặt ra những yêu cầu quản lý chặt chẽ và rất linh hoạt trong mọi hoạt động liên quan đến hợp tác với bên ngoài, đặc biệt là hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin và báo chí.

        Trần Thị Khánh Hòa
Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ báo chí, Cục Báo chí, Bộ TT&TT
 
 
 
 
 


Xem tin theo ngày: 
ĐĂNG KÝ TUYỂN SINH